Mùa Phật đản 2026, phật tử lại hướng về những chốn thiền môn thanh tịnh. Huế, vùng đất được mệnh danh là kinh đô Phật giáo của Việt Nam, sở hữu hơn 300 ngôi chùa lớn nhỏ. Mỗi cổ tự nơi đây mang một kiến trúc, bố cục và tông phái riêng biệt.
Chùa Thiên Mụ: Tháp cổ soi mình bên dòng Hương Giang
Chùa Thiên Mụ không chỉ là cổ tự hơn 400 năm tuổi mà còn được tôn vinh là danh lam thắng cảnh bậc nhất xứ cố đô. Từ xa, du khách đã bị thu hút bởi cấu trúc đồ sộ nhưng thanh thoát của tháp Phước Duyên 7 tầng, tạo nên sự cân đối tuyệt mỹ bên bờ sông Hương.
Lịch sử ngôi chùa gắn liền với bước chân mở mang bờ cõi của chúa Nguyễn Hoàng. Năm 1601, khi xem xét địa thế, chúa bắt gặp ngọn đồi có thế đất tựa rồng quay đầu. Người dân kể rằng ban đêm có bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện báo mộng về một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch. Từ đó, chùa mang tên "Thiên Mụ" ra đời. Dưới triều Nguyễn, chùa được trùng tu quy mô, đặc biệt năm 1844 vua Thiệu Trị cho xây tháp Phước Duyên và đình Hương Nguyện.
Đến chùa Thiên Mụ, bước qua Nghi Môn vào nội điện là điện Đại Hùng uy nghiêm, nơi du khách cảm nhận rõ bản sắc cung đình xưa cũ, tiếng chuông chùa vang vọng xua tan muộn phiền.
Chùa Từ Đàm: Chiếc nôi chấn hưng Phật giáo và cây bồ đề Ấn Độ
Tọa lạc trên dốc Nam Giao (số 1 đường Sư Liễu Quán), chùa Từ Đàm là cổ tự danh tiếng gắn liền với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam hiện đại. Khởi nguồn từ thế kỷ 17, từ một thiền thất của sư Minh Hoằng Tử Dung từ Trung Hoa sang Thuận Hóa tu hành, nơi đây dần được mở rộng. Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch "Sắc tứ Ấn Tông Tự".
Chùa Từ Đàm là chứng nhân của nhiều sự kiện lịch sử trọng đại: năm 1936 là trung tâm phong trào chấn hưng Phật giáo; năm 1951 tổ chức hội nghị thống nhất Phật giáo ba miền; năm 1960 là trung tâm đấu tranh Phật giáo.
Bước qua cổng tam quan, khoảng sân rộng lớn hiện ra với cây bồ đề cổ thụ sum suê, được chiết cành từ nơi Đức Phật thành đạo ở Ấn Độ mang về năm 1936. Bên cạnh là bảo tháp 7 tầng uy nghi mới xây dựng. Chùa vẫn lưu giữ những báu vật thời gian như quả đại hồng chung đúc thời vua Gia Long và các bức hoành phi cổ kính.
Tổ đình Từ Hiếu: Giai thoại vẹn tròn hiếu nghĩa và nghĩa trang thái giám
Nép mình sau rừng thông rộng lớn 50.000 m² tại đường Lê Ngô Cát (phường Thủy Xuân), tổ đình Từ Hiếu mang không gian trầm mặc, nguyên sơ với những khe nước nhỏ uốn lượn. Ngôi chùa nguyên thủy là am An Dưỡng do hòa thượng Nhất Định khai sáng từ thế kỷ 19. Tên gọi "Từ Hiếu" xuất phát từ giai thoại cảm động: khi mẹ già lâm bệnh nặng, hòa thượng Nhất Định hằng ngày đi chợ mua cá nấu cháo tẩm bổ cho mẹ. Vua Tự Đức cảm phục đã ban biển "Sắc tứ Từ Hiếu tự".
Qua nhiều đợt trùng tu, chùa vẫn giữ lối kiến trúc chữ Khẩu đặc trưng. Điểm đặc biệt là khu nghĩa trang thái giám triều Nguyễn nép mình bên hông chùa. Tổ đình Từ Hiếu cũng là nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh từng xuất gia tu học và chọn quay về tĩnh dưỡng rồi viên tịch.
Chùa Diệu Đế: Kiến trúc cung đình và kiệt tác tranh rồng kỷ lục
Chùa Diệu Đế (số 100B đường Bạch Đằng, phường Phú Xuân, thành phố Huế) tọa lạc bên dòng sông Đông Ba, mang không gian kiến trúc cung đình triều Nguyễn. Ngôi chùa vốn là phủ cũ của Phúc Quốc Công, nơi vua Thiệu Trị chào đời. Năm 1844, vua sắc phong thành Quốc tự, điều 600 binh lính xây dựng chùa cầu phúc cho nhân dân.
Ngày nay, chùa Diệu Đế giữ nét uy nghiêm với La Thành kiên cố, chánh điện Đại Hùng và hai quả đại hồng chung do vua Thiệu Trị chủ trì đúc. Báu vật độc đáo nhất là bức tranh "Long vân khế hội" trên trần chánh điện, được công nhận là "Bức tranh vẽ trên trần chánh điện xưa và lớn nhất Việt Nam", dài 10 m, rộng 11 m, tái hiện 9 con rồng ẩn hiện giữa mây quấn quanh 4 cột trụ.



