Nằm sâu trong con hẻm nhỏ ở khu Chợ Lớn (TP.HCM), bức tường của một căn nhà treo kín 149 tấm Huân, Huy chương cùng hàng chục bằng Tổ quốc ghi công. Đó là những mảnh ghép ký ức còn lại của gia đình ông Giang Quảng, một gia đình tình báo có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nhà văn Mã Thiện Đồng đã ghi lại câu chuyện này trong truyện ký Gia đình tình báo có bốn Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Phân đội tình báo "Nhà báo Miên Hoa"
Năm 1940, xưởng Ba Son (nay thuộc phường Sài Gòn, TP.HCM) chứng kiến cuộc họp bí mật do đồng chí Tôn Đức Thắng chủ trì. Nhiệm vụ chiến lược được đưa ra là cử một số cán bộ người Hoa yêu nước đóng vai thương nhân sang Phnôm Pênh (Campuchia) để xây dựng cơ sở cách mạng và kinh tế lâu dài. Nhận nhiệm vụ này, ông Giang Quảng, nhà hoạt động cách mạng quê gốc Quảng Châu, đã đưa cả gia đình sang đất nước Chùa Tháp. Tại Phnôm Pênh, gia đình ông mở một tiệm cơm gà xá xíu và nhanh chóng ăn nên làm ra. Nhìn vào chuyện kinh doanh phát đạt, ít ai biết đằng sau vỏ bọc đó là nơi tập trung của những nhà lãnh đạo cách mạng như Trung tướng Nguyễn Bình, đồng chí Dương Quang Đông, bà Nguyễn Thị Bình...
Sau này, để mở rộng địa bàn hoạt động, ông Giang Quảng cho bán bớt các tiệm cơm rồi xây dựng ba căn nhà lớn trên đường Monivong. Đó là trụ sở của tờ báo Miên Hoa và Nhà máy đúc chữ Vĩnh Viễn. Tòa soạn này phát hành bằng 4 thứ tiếng, vừa tạo thế hợp pháp, vừa là nơi bí mật in ấn bản cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông Giang Quảng lúc bấy giờ, với mái đầu bạc trắng, được gọi bằng cái tên: "Ông Hai Già Đầu Bạc".
Toàn bộ gia tộc tham gia tình báo
Đến năm 1960, trước yêu cầu của Đoàn 17 (Cục Hậu cần Miền B2), ông quyết định đưa toàn bộ gia tộc vào tổ chức. Gia đình 15 người của ông, gồm hai người vợ là bà Trương Mỹ Hoa và bà Trần Mỹ Hạnh, cùng các con trai, con dâu, con gái và các cháu nội lần lượt đứng trong mạng lưới tình báo Đoàn 22. Họ lên chiến khu R - mật danh của Trung ương Cục miền Nam, được đặt ở tỉnh Tây Ninh (cũ) - học tập nghiệp vụ rồi trở về hoạt động tại tòa soạn báo. Cả gia đình hoạt động cách mạng và ghi dấu ấn khi vận động được một số tiền lớn để hỗ trợ cho cách mạng miền Nam vào năm 1961.
Nhưng giông bão ập đến vào năm 1970, ông Giang Quảng bị địch bắt. Chịu đựng những đòn tra tấn suốt hơn một năm trời trong ngục, người chiến sĩ cách mạng 72 tuổi quyết giữ vững khí tiết đến hơi thở cuối cùng. Ông hy sinh trong tù ngày 8/2/1972. Sự mất mát của gia đình tiếp tục nối dài đến ngày 8/4/1975, 19 thành viên trong gia đình (gồm 11 chiến sĩ điệp báo và 8 người thân) đã hy sinh.
Bốn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng
Trải qua ba cuộc chiến tranh khốc liệt, gia tộc Giang Quảng đã ghi nhận sự hy sinh của 13 thành viên. Gia đình có bốn người phụ nữ cùng được vinh danh danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Người đầu tiên là liệt sĩ Trương Mỹ Hoa, Tổ trưởng điệp báo. Bà có chồng là liệt sĩ Giang Quảng và ba con trai là các liệt sĩ Giang Viễn, Giang Hùng, Giang Quyền. Người thứ hai là bà Trần Thị Hạnh (Trần Mỹ Hạnh). Bà cũng có chồng là Liệt sĩ Giang Quảng cùng ba người con là các liệt sĩ Giang Cường, Giang Thị Lan, Giang Thị Mai.
Mất mát nối dài sang thế hệ con dâu với bà Chu Thị Mỹ. Nữ bác sĩ tốt nghiệp tại Paris đã ngã xuống bên cạnh chồng là Liệt sĩ Giang Viễn và ba người con là Giang Thị Phương, Giang Thị Nga, Giang Quốc Thắng. Người thứ tư được vinh danh là bà Vương Ngọc Hoa. Bà hy sinh cùng chồng là Liệt sĩ Giang Hùng và người con trai duy nhất là Liệt sĩ Giang Quốc Minh.
"Con sẽ sanh cho mẹ một bầy cháu"
Trong số những thành viên của gia đình họ Giang, người con trai Giang Đông là một trong hai người còn sống sót. Anh là Thượng úy tình báo, chiến sĩ thuộc Đoàn 316.
Chiều 30/4/1975, Sài Gòn - TP.HCM vỡ òa trong niềm vui đại thắng. Giữa dòng người hân hoan, Thượng úy Giang Đông - vừa cùng Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào tiếp quản quận 11 - bước đi với cõi lòng nóng như lửa đốt. Anh gầy gò, mang trên mình hàng chục vết thương chiến tranh và viên đạn vẫn còn găm sâu trong sọ não sau một trận đánh. Song, lòng mong mỏi tìm lại người thân khiến anh bước thật nhanh về phía Chợ Lớn. Trước đó, nhờ đã chuyển về sinh sống tại khu vực Chợ Lớn từ trước, mẹ anh - bà Trần Mỹ Hạnh - may mắn thoát nạn khỏi thảm kịch rừng Sác.
Tại căn nhà nhỏ, hai mẹ con Giang Đông và bà Trần Mỹ Hạnh ôm nhau khóc ròng. Nhận tin dữ cả gia đình 19 người đã hy sinh, bà Hạnh từng chết ngất trong đau đớn. Chiến tranh tàn khốc đã cướp đi của bà tất cả. Cả một gia đình lớn 24 người, ngày hòa bình chỉ còn lại đúng hai mẹ con.
Nỗi đau quá lớn khiến người mẹ già chỉ còn biết dồn hết tình thương vào đứa con trai còn sống. Nhìn con mang thương tật đầy mình, cứ mỗi khi trời trở giông bão hay sấm sét là đầu lại đau nhức, co giật, bà Hạnh lo sợ giọt máu cuối cùng của nhà họ Giang sẽ không thể duy trì. Thấu hiểu nỗi lòng của mẹ, Giang Đông khi ấy đã gần 30 tuổi, chủ động nói: "Mẹ tìm vợ cho con đi. Con sẽ lấy ngay người nào mẹ chọn. Con sẽ sanh cho mẹ một bầy cháu".
Lời hứa của người con trai như một liều thuốc tinh thần, giúp người mẹ tìm lại bản năng sinh tồn để vượt qua nỗi đau xé lòng. Sau đó, Giang Đông lập gia đình, sinh con đẻ cái đúng như nguyện ước của mẹ. Bà Trần Thị Hạnh mất năm 1992. Đến tháng 8/2004, bà chính thức được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.



