Dòng họ khoa bảng Vân Điềm: Từ Hoàng giáp Nguyễn Thực đến truyền thống hiếu học
Dòng họ khoa bảng Vân Điềm: Từ Hoàng giáp Nguyễn Thực

Trong lịch sử khoa cử nước nhà, từ khoa thi đầu tiên dưới triều Lý năm Ất Mão (1075) đến khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn năm 1919, Việt Nam có 2.898 người đỗ đại khoa. Họ là tầng lớp trí thức tinh hoa, những bậc hiền tài được tôn vinh là "nguyên khí của quốc gia", góp phần tạo nên truyền thống văn hiến, thi thư của dân tộc qua nhiều thế kỷ. Đằng sau những tên tuổi khắc ghi trên bia đá Văn Miếu hay lưu danh trong sử sách, phần lớn là những gia đình trọng học, coi việc dùi mài kinh sử, tu dưỡng nhân cách và lập thân bằng học vấn là giá trị cốt lõi. Chính từ nền tảng ấy đã hình thành một hiện tượng đặc sắc trong lịch sử giáo dục Việt Nam: các "gia đình khoa bảng", "dòng họ khoa bảng". Không ít dòng họ nhiều đời liên tiếp có người đỗ đạt; có gia đình cha con, anh em, chú cháu, ông cháu cùng ghi danh bảng vàng, để lại những câu chuyện vừa đáng tự hào, vừa có ý nghĩa sâu xa về vai trò của gia đình, dòng họ trong việc bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

Dòng họ khoa bảng tiêu biểu vùng Kinh Bắc

Trong số những dòng họ khoa bảng tiêu biểu của vùng Kinh Bắc – Thăng Long xưa, dòng họ của Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực ở làng Vân Điềm, Du Lâm nổi lên như một trường hợp đặc biệt. Từ một tấm gương lớn của thế kỷ XVI, truyền thống hiếu học ấy không dừng lại ở vinh quang của một cá nhân, mà được kế tục qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên một mạch nguồn văn hóa bền bỉ của quê hương.

Làng Vân Điềm và nguồn gốc dòng họ

Làng Vân Điềm, tên Nôm là Kẻ Đóm, nay thuộc xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Trong tiến trình lịch sử, vùng đất này gắn bó mật thiết với huyện Đông Ngàn, một không gian văn hóa Nho học phát đạt thuộc loại nổi bật của xứ Kinh Bắc. Phương ngôn xưa từng đúc kết: "Tương Vân Cầu, bầu Đông Lữ, chữ Đông Ngàn". Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng nhận xét về vùng Đông Ngàn: "Mạch đất tốt tụ vào đấy, nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp, tinh hoa họp vào đấy, nên sinh ra nhiều danh thần". Theo truyền ngôn dân gian trong vùng, từ đầu thế kỷ XV, khu vực làng và đồng Vân Điềm hiện nay đã hình thành bốn cụm dân cư: làng Nùi, xóm Vó Bè, làng Đóm và xóm Ba Điểm. Về sau, bốn cụm dân cư này hội cư thành một làng lớn hơn, có tên trong sổ hành chính là thôn Nội Điểm, thuộc xã Hà Lỗ, rồi đổi thành Vân Điềm và được biệt lập thành xã riêng. Trong làng xưa chỉ có một dòng họ Lê, còn hầu hết các dòng họ khác đều mang họ Nguyễn. Trong số những dòng họ có mặt sớm tại làng, họ Nguyễn Đại tôn được gia phả và truyền ngôn địa phương ghi nhận là có nguồn gốc từ họ Lý, gắn với nhánh hậu duệ của Lý Quang Bật và Lý Long Tường. Sau biến động triều đại, con cháu lưu tán nhiều nơi rồi về Vân Điềm lập nghiệp. Dù cần tiếp tục đối chiếu thêm các nguồn gia phả, văn bia và tư liệu Hán Nôm, truyền thuyết về nguồn gốc ấy cho thấy ý thức sâu sắc của dòng họ về cội nguồn, gia phong và trách nhiệm nối tiếp tiền nhân.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Câu ca xưa còn ghi lại: "Vân Điềm đất của xương phiền / Cha con sánh bước hoè hiên chen bầy." (Trích Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự).

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Hoàng giáp Nguyễn Thực: Người mở đầu rực rỡ

Cuối thế kỷ XVI, từ mảnh đất Vân Điềm, danh sĩ Nguyễn Thực xuất hiện như người mở đầu rực rỡ cho truyền thống khoa bảng của dòng họ. Ông thuộc đời thứ năm của họ Nguyễn ở làng Vân Điềm, sinh năm 1555 trong bối cảnh đất nước nhiều biến động. Đó là thời kỳ Nam – Bắc triều phân tranh, xã hội chưa yên ổn, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, việc theo đuổi con đường học vấn không chỉ đòi hỏi tư chất, mà còn cần ý chí, nghị lực và khát vọng lập thân lớn lao. Tương truyền từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Thực đã nổi tiếng thông minh, ham học và có tư chất hơn người. Trong điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn, ông vẫn miệt mài đèn sách, coi việc học là con đường tu thân, lập nghiệp và giúp đời.

Năm 1595, ở tuổi 40, Nguyễn Thực dự khoa thi Ất Mùi đời vua Lê Thế Tông, đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, tức Hoàng giáp. Từ đây, tên tuổi ông gắn với một trong những mốc son quan trọng của truyền thống khoa bảng Vân Điềm.

Sự nghiệp quan trường và nhân cách thanh liêm

Sau khi đỗ đạt, Đình Nguyên, Hoàng Giáp Nguyễn Thực trải qua gần bốn thập niên phụng sự triều đình vua Lê Trung hưng, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Từ chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, ông lần lượt được giao giữ các chức vụ ở Bộ Lễ, Bộ Hình, Hàn lâm viện và Đông các. Năm 1606, ông được cử đi sứ nhà Minh, góp phần thực hiện nhiệm vụ bang giao của triều đình. Trong quá trình làm quan, ông nhiều lần được thăng chức, từ Thị lang, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Lễ đến Đông các Đại học sĩ, đồng thời được ban các tước vị cao quý như Khánh Xuyên bá, Lan Quận công. Ở giai đoạn cuối sự nghiệp, ông được triều đình phong tới những phẩm hàm cao của hàng đại thần như Thái phó, Thái úy, Quốc lão, Thái bảo và đặc cách phong Thượng trụ quốc. Năm 1634, ông giữ chức Thượng thư Bộ Hộ, hàm Thái phó trước khi xin về trí sĩ. Ông qua đời năm 1637, hưởng thọ 82 tuổi; triều đình để tang ba ngày, truy tặng chức Thái tể và ban tên thụy là Trung Thuần. Dân làng Hương Mặc tôn ông làm Thành hoàng làng, còn dân làng Vân Điềm lập bia ghi lệ thờ cúng.

Sự nghiệp quan trường của danh sĩ Nguyễn Thực được đánh giá cao không chỉ bởi chức vị mà ông từng đảm nhiệm, mà còn bởi nhân cách của một bậc đại thần thanh liêm, cẩn trọng và giữ khí tiết. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú chép rằng ông "thuần hậu trong sạch, cẩn thận, không lập sản nghiệp, làm quan trải qua những bước vinh hiển trọng yếu mà vẫn thanh bạch, có phong độ như bậc danh thần đời xưa". Nhà bác học lớn của Việt Nam thời phong kiến Lê Quý Đôn cũng nhận xét ông là người "dùng đức độ danh vọng mà trấn phục người trong nước, thanh liêm, sẻn nhặt, giữ gìn, mộc mạc, điềm đạm, thích lễ nghi, ở trên triều đường kính cẩn như không dám nói".

Như vậy, từ tấm gương của Hoàng giáp Nguyễn Thực, truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm đã được khơi nguồn và tiếp nối qua nhiều thế hệ, góp phần làm giàu thêm di sản văn hóa của vùng đất Kinh Bắc – Thăng Long.