100 năm ngày sinh nữ giáo sư triết học đầu tiên của Việt Nam Lê Thi
100 năm ngày sinh nữ GS triết học đầu tiên Lê Thi

Sáng ngày 3 tháng 6 năm 2026, tại Hà Nội, Viện Triết học thuộc Viện Nghiên cứu con người, gia đình và giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp cùng gia đình đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư Lê Thi (3.6.1926 – 28.8.2020). Dịp này, cuốn hồi ký mang tựa đề "Mẹ tôi - Người phụ nữ kéo cờ Tổ quốc" do Tiến sĩ Lê Minh Quốc biên soạn cũng chính thức ra mắt công chúng.

Hành trình từ tiểu thư Việt Minh đến nữ giáo sư triết học

Bà Lê Thi, tên thật là Dương Thị Thoa, là con gái của Giáo sư Dương Quảng Hàm (1898 – 1946), nguyên Hiệu trưởng Trường trung học Chu Văn N An. Xuất thân từ một gia đình trí thức, bà đã được chọn làm đại diện nữ sinh thủ đô Hà Nội cùng với Đàm Thị Loan – nữ chiến sĩ Giải phóng quân từ Việt Bắc về – để kéo lá cờ đỏ sao vàng trong Ngày Độc lập.

Sau 10 năm hoạt động trong lĩnh vực phụ nữ vận động, từ tháng 12 năm 1961, bà Lê Thi chuyển sang công tác tại Ban Triết học thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), đảm nhận vai trò tổ trưởng nghiên cứu các vấn đề về duy vật lịch sử.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Trong suốt 27 năm công tác tại Viện Triết học (1961 – 1988), bà đã lần lượt giữ các chức vụ quan trọng: Phó viện trưởng, quyền Viện trưởng, rồi Viện trưởng Viện Triết học kiêm Tổng biên tập Tạp chí Triết học. Chia sẻ về quãng thời gian này, Giáo sư Lê Thi từng tâm sự: "Nghiên cứu triết học có nhiều khó khăn, nghiên cứu về duy vật lịch sử lại đòi hỏi những yêu cầu riêng phức tạp hơn, tôi lại phải đảm nhiệm nhiều công tác quản lý khoa học và hành chính sự vụ nặng nề. Nhưng với lòng yêu khoa học, tôi quyết tâm tranh thủ thời gian, sắp xếp công việc để hoàn thành một số công trình nghiên cứu về duy vật lịch sử, thực hiện các báo cáo khoa học, đặc biệt là vào năm 1981 để phục vụ chuẩn bị Đại hội V của Đảng, tập trung vào những chuyên đề mà tôi có điều kiện tích lũy tư liệu và vốn lý luận".

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Tài Đông, Viện trưởng Viện Triết học, cho biết: Năm 1992, bà Lê Thi được phong học hàm giáo sư triết học, trở thành nữ giáo sư triết học đầu tiên tại Việt Nam.

Khai sáng nghiên cứu khoa học về phụ nữ và bình đẳng giới

Tại buổi lễ kỷ niệm, các nhà khoa học đã ghi nhận tầm nhìn khoa học và tinh thần tiên phong của bà Lê Thi. Năm 1987, bà tham gia xây dựng và phát triển Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ (nay là Viện Nghiên cứu con người, gia đình và giới). Trước đó, với kinh nghiệm dày dặn trong công tác phụ vận và là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hai khóa (1974 – 1987), bà đã trăn trở: "Ở Việt Nam đã đến lúc các vấn đề phụ nữ cần được nghiên cứu trên cơ sở khoa học thì mới có thể hỗ trợ hiệu quả cho công tác vận động phụ nữ rộng rãi".

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Với vai trò Viện trưởng Viện Triết học, bà Lê Thi đã bắt đầu triển khai các đề tài nghiên cứu về phụ nữ – lao động – việc làm cùng các đồng nghiệp nữ. Ý tưởng của bà nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Thị Định và Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội. Vào thời điểm đó, việc thành lập một cơ quan khoa học về phụ nữ ở Việt Nam còn khá mới mẻ, và bà đã phải đối mặt với nhiều ý kiến phản bác và chế giễu. Tuy nhiên, tháng 3 năm 1987, Trung tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ chính thức ra mắt.

Trong 10 năm đứng đầu trung tâm, Giáo sư Lê Thi đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi, vừa có chuyên môn sâu về các ngành khoa học như tâm lý, xã hội học, kinh tế, luật học – những lĩnh vực cần thiết cho nghiên cứu về phụ nữ – vừa được trang bị kiến thức lý luận về giới. Từ năm 1993 đến 1995, bà làm chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước KX0709: "Vai trò gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam". Đề tài này được Nhà xuất bản Phụ nữ in năm 1997, sau đó được Nhà xuất bản Thế giới dịch sang tiếng Anh. Giáo sư Lê Thi từng tự đánh giá: "Đó là một cuốn sách tôi rất tâm đắc".

Năm 2020, Giáo sư Lê Thi qua đời. Trong điếu văn, Tiến sĩ Đặng Xuân Thanh, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đã ghi nhận sự nghiệp khoa học hơn nửa thế kỷ của bà: "Những thành tựu nghiên cứu của giáo sư không chỉ đóng góp vào giải quyết các vấn đề lý luận chung, lý luận về thời kỳ quá độ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, triển khai các nội dung nghị quyết đại hội Đảng các khóa, mà còn thực hiện những nhiệm vụ của khoa học xã hội trong các giai đoạn cách mạng. Các kết quả nghiên cứu không chỉ hình thành nên các luận điểm khoa học mà còn là cơ sở khoa học, kiến nghị các chủ trương, xây dựng chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực gia đình và phụ nữ, nhằm cải thiện đời sống, xây dựng gia đình, phát huy vai trò của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới. Những kết quả đó cũng bao hàm nhiều kiến thức phổ cập về gia đình, giúp cán bộ cơ sở và phụ nữ có thể đọc và áp dụng vào thực tiễn".

Tiến sĩ Lê Minh Quốc, con trai trưởng của Giáo sư Lê Thi, đã thống kê các tác phẩm nghiên cứu mà mẹ mình để lại, bao gồm: 15 cuốn sách và 210 bài báo đăng trên các báo, tạp chí từ năm 1977 đến 2018, trong đó hơn 100 bài được đăng trong giai đoạn 2000 – 2018.

Những đóng góp sau khi nghỉ hưu

Ngay cả khi đã nghỉ hưu, Giáo sư Lê Thi vẫn tích cực tham gia các hoạt động khoa học. Bà đã phối hợp với các cán bộ của Viện Nghiên cứu con người, gia đình và giới để làm chủ nhiệm đề tài cấp bộ (2007 – 2008) về "Tìm hiểu các quan niệm và nhận thức về hôn nhân, gia đình của các thế hệ Việt Nam hiện nay, qua khảo sát ở một số địa phương thuộc Đồng bằng sông Hồng". Năm 2004, bà đóng góp ý kiến cho Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.10 do Bộ trưởng Trần Đình Hoan làm chủ nhiệm. Bà cũng tham gia hội thảo quốc tế về toàn cầu hóa (2006), hội thảo khoa học quốc tế về công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội (2007), và hội thảo quốc tế "Phụ nữ châu Á và giáo dục - Quan điểm Á - Âu và những nhìn nhận khác" (2011). Ngoài ra, bà còn hướng dẫn luận án tiến sĩ triết học cho nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thức (2001) và phản biện luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (2005).