Đối thoại an toàn vệ sinh lao động năm 2026: Hướng tới chính sách thực chất và khả thi
Đối thoại an toàn vệ sinh lao động 2026: Thực chất và khả thi

Chiều 24/4, tại Quảng Ninh, Hội đồng Quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động đã tổ chức Đối thoại định kỳ năm 2026 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Sự kiện nhằm trao đổi, làm rõ các nội dung trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động ở nước ta hiện nay.

Đối thoại ngày càng đi vào thực chất

Phát biểu khai mạc phiên đối thoại, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Chủ tịch Hội đồng quốc gia về an toàn vệ sinh lao động Nguyễn Mạnh Khương cho biết, qua các kỳ đối thoại gần đây, đặc biệt là năm 2025, có thể thấy đối thoại ngày càng đi vào thực chất, nhiều ý kiến đã được tiếp thu, xử lý; hệ thống chính sách, pháp luật tiếp tục được hoàn thiện; công tác quản lý nhà nước được tăng cường. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn những tồn tại như: quy định còn chồng chéo, thủ tục hành chính còn phức tạp, một số chính sách chưa thực sự đi vào cuộc sống, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực lao động phi chính thức.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Khương, trong bối cảnh hiện nay, Bộ Chính trị đã ban hành 4 Nghị quyết lớn, mang tính định hướng chiến lược, có thể coi là “bộ tứ trụ cột” đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển. Các nghị quyết này đã xác lập những trục phát triển rất rõ: thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng; đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật, khắc phục tình trạng các quy định còn chồng chéo, phức tạp; đồng thời phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Từ những định hướng trên, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Khương cho rằng nhiệm vụ đặt ra yêu cầu rất rõ đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, đó là phải đổi mới tư duy xây dựng và thực thi chính sách, chuyển từ quản lý hành chính sang phục vụ, kiến tạo; từ quy định nặng về hình thức sang bảo đảm tính khả thi; từ phương thức truyền thống sang ứng dụng công nghệ, dữ liệu trong quản lý và phòng ngừa rủi ro. Đồng thời, trong bối cảnh hội nhập, các tiêu chuẩn về điều kiện lao động cũng cần được tiếp cận theo hướng tiệm cận với thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Khương đề nghị các đại biểu tham dự đối thoại phát huy tinh thần trách nhiệm, trao đổi thẳng thắn, tập trung vào các vấn đề thực tiễn, có tính khả thi cao, góp phần nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả tổ chức thực hiện trong thời gian tới.

Năm nhóm ý kiến về khó khăn, vướng mắc trong triển khai công tác an toàn vệ sinh lao động

Báo cáo tại phiên đối thoại, ông Bùi Đức Nhưỡng, Phó Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Nội vụ) cho biết, để chuẩn bị cho buổi đối thoại định kỳ năm 2026, ngày 13/2/2026, Bộ Nội vụ - Cơ quan thường trực của Hội đồng đã ban hành công văn gửi các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp về việc gửi ý kiến về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai công tác an toàn, vệ sinh lao động. Trên cơ sở các ý kiến gửi đến, Bộ Nội vụ đã tổng hợp, phân loại thành các nhóm ý kiến.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình
  • Thứ nhất, nhóm ý kiến về quản lý máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động: Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất giữa Luật An toàn, vệ sinh lao động và các luật, nghị định, thông tư chuyên ngành; làm rõ phân công, phân cấp và xác định cơ quan đầu mối quản lý nhà nước, tránh chồng chéo, trùng lặp trong quản lý, cấp phép và kiểm định; cập nhật, bổ sung danh mục và quy chuẩn kỹ thuật đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; hoàn thiện quy định về kiểm định kỹ thuật an toàn; Đổi mới công tác quản lý theo hướng số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; tăng cường giám sát và nâng cao trách nhiệm của tổ chức kiểm định; cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình khai báo, kiểm định, báo cáo; bổ sung, hoàn thiện các quy định kỹ thuật và hướng dẫn chuyên ngành, bao gồm: tiêu chuẩn đào tạo, huấn luyện vận hành thiết bị; quy định về quản lý, bảo trì, theo dõi thiết bị; hướng dẫn đối với các trường hợp đặc thù (thiết bị số lượng lớn, thiết bị đơn giản, thiết bị trong dây chuyền sản xuất…).
  • Thứ hai, nhóm ý kiến về quản lý công tác huấn luyện an toàn vệ sinh lao động: Quy định về điều kiện đối với tổ chức huấn luyện, cấp giấy chứng nhận huấn luyện còn có nội dung chưa thống nhất; tổ chức thực hiện, công tác huấn luyện tại doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc bố trí thời gian, nhân lực tham gia huấn luyện; chi phí và điều kiện triển khai, chi phí huấn luyện còn cao, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; việc thuê đơn vị huấn luyện bên ngoài phát sinh nhiều chi phí, trong khi năng lực tự tổ chức huấn luyện tại doanh nghiệp còn hạn chế; chất lượng huấn luyện giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ chưa đồng đều; nội dung huấn luyện còn nặng về lý thuyết, thiếu tính thực hành, chưa phù hợp với đặc thù công việc; chưa có hệ thống quản lý, theo dõi thống nhất về quá trình huấn luyện của người lao động.
  • Thứ ba, nhóm ý kiến về chế độ, chính sách an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp: Đề nghị nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định tại Nghị định số 58/2020/NĐ-CP và Nghị định số 88/2020/NĐ-CP theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng về điều kiện, mức hỗ trợ, hồ sơ, thủ tục, cơ chế quản lý và quyết toán kinh phí hỗ trợ; quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong giải quyết hồ sơ hưởng chế độ; Rà soát, bổ sung quy định về bồi thường, trợ cấp đối với người lao động bị bệnh nghề nghiệp sau khi nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển sang làm việc cho người sử dụng lao động khác; rà soát, cập nhật, bổ sung danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phù hợp với thực tiễn sản xuất, kinh doanh; bổ sung quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan đến “yếu tố nguy hiểm” làm căn cứ thực hiện chế độ; nghiên cứu điều chỉnh phương thức cấp phát bồi dưỡng bằng hiện vật theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù sản xuất…
  • Thứ tư, nhóm ý kiến về lĩnh vực khai báo, điều tra tai nạn lao động: Chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh không thành lập Đoàn điều tra sau khi đã nhận được khai báo tai nạn; thời hạn và điều kiện điều tra trong một số trường hợp chưa phù hợp với thực tế, đặc biệt đối với các vụ tai nạn giao thông phải chờ kết luận của cơ quan Công an hoặc tai nạn đối với thuyền viên làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế; về hồ sơ, căn cứ điều tra, việc thu thập tài liệu xác nhận đối với các vụ tai nạn giao thông liên quan đến lao động còn gặp khó khăn, nhất là trong trường hợp tai nạn xảy ra tại khu vực vắng người, thiếu thông tin; tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động và tai nạn lao động còn thấp, dẫn đến số liệu tổng hợp chưa phản ánh đầy đủ thực tế; chế tài xử lý, mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về báo cáo tai nạn lao động còn thấp, chưa đủ tính răn đe.
  • Thứ năm, nhóm ý kiến về lĩnh vực quan trắc môi trường lao động và chăm sóc sức khỏe người lao động: Chất lượng quan trắc môi trường lao động, khám sức khỏe định kỳ và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp tại một số doanh nghiệp còn mang tính hình thức, chưa phản ánh đúng thực trạng điều kiện lao động và sức khỏe người lao động; quy định về đối tượng phải thực hiện quan trắc môi trường lao động chưa phân loại theo mức độ nguy cơ, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện; công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động quan trắc môi trường lao động tại địa phương còn hạn chế, thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ; bổ sung cơ chế giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ quan trắc môi trường lao động tại các cơ sở do địa phương quản lý…

Nhiều ý kiến tập trung vào rà soát, hoàn thiện quy định

Phát biểu tại phiên đối thoại, nhiều ý kiến của các đại biểu đã tập trung vào việc rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật; tổ chức thực hiện tại các bộ, ngành, địa phương; cũng như một số nội dung phát sinh trong thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu. Một số vấn đề liên quan đến cơ chế phối hợp, hiệu quả quản lý nhà nước và việc triển khai đối với các nhóm đối tượng, lĩnh vực đặc thù cũng đã được các đại biểu trao đổi, làm rõ thêm.

Trên cơ sở nội dung đối thoại, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Khương đề nghị cơ quan thường trực Hội đồng tổng hợp đầy đủ các ý kiến, phối hợp với các bộ, ngành liên quan để nghiên cứu, xử lý theo thẩm quyền. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát việc thực hiện các quy định hiện hành; kịp thời đề xuất hoàn thiện những nội dung cần điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất và khả thi. Đồng thời, tăng cường công tác hướng dẫn, tổ chức thực hiện; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động. Cơ chế đối thoại cần tiếp tục được duy trì, phát huy để kịp thời nắm bắt các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.

Với các cơ quan, đơn vị liên quan, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Khương đề nghị tiếp tục chủ động rà soát, hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm các quy định được triển khai đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thực tiễn; đồng thời gắn với yêu cầu cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người lao động.

Giảm mạnh tai nạn lao động năm 2025 nhưng thách thức còn lớn

Trong năm 2025, số vụ tai nạn lao động và số người bị tai nạn lao động trên cả nước giảm mạnh, đặc biệt ở khu vực có quan hệ lao động. Theo báo cáo của 34/34 địa phương, cả nước xảy ra 7.004 vụ tai nạn lao động, làm 7.156 người bị nạn, giảm hơn 15% so năm 2024. Số vụ tai nạn chết người là 621 vụ; số người chết là 658 người, đều giảm so năm trước. Thiệt hại vật chất cũng giảm mạnh, từ hơn 42.565 tỷ đồng năm 2024 xuống còn 14.026 tỷ đồng năm 2025.

Tuy đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả nhất định, nhưng công tác an toàn, vệ sinh lao động đang đứng trước những thách thức lớn hơn. Số vụ tai nạn lao động, số người mắc bệnh nghề nghiệp, các sự cố nghiêm trọng vẫn ở mức cao, chưa có sự giảm đều bền vững. Tai nạn lao động trong khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động vẫn gia tăng.

Nguồn: Bộ Nội vụ