Theo thống kê của Niên giám Nam kỳ năm 1883, số lượng người đi học chữ Quốc ngữ và chữ Hán có sự chênh lệch đáng kể. Trong 21 địa hạt ở Nam kỳ, có 2.262 trường dạy chữ Quốc ngữ với 15.397 học sinh, trong khi trường học chữ Hán chỉ có 270 trường với 3.224 học sinh. Tại các trường dành cho học sinh nữ, chữ Quốc ngữ có 858 học sinh, còn chữ Hán không có học sinh nào. Các trường Pháp có 812 học sinh nam, đông nhất là Trường Chasseloup Laubat với 293 học sinh và ít nhất là Trường Sóc Trăng với 51 học sinh.
Bối cảnh lịch sử
Trong sách Gò Công cảnh cũ người xưa (xuất bản năm 1969 tại miền Nam), cụ Việt Cúc cho biết từ thập niên 70 của thế kỷ 19, Pháp đã ra lệnh cho các thầy dạy chữ Nho phải học thêm chữ Quốc ngữ và chữ Tây. Họ phải từ bỏ bút lông, thay bằng bút sắt và tập đánh vần: a, b, c, d, đ...; a sắc á, ơ sắc ớ... cho đến khi đánh vần thông thạo những bài thơ như:
Dọn bài giải sách, chỉ dần cho
Rõ nghĩa can thường, rõ đạo Nho
Nấu sử, sôi kinh đều đặng chín
Cũng vì siêng sắn cả thầy trò.
Theo cụ Việt Cúc, bài tập đọc này là một trong những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho nền Quốc văn nguy nga lộng lẫy ngày nay. Sau vài tháng học, các thầy được cấp giấy chứng nhận và được phép dạy học tại nhà.
Sách giáo khoa thời kỳ đầu
Các sách giáo khoa để lại cho thấy hai thứ chữ: Hán và Quốc ngữ. Thanh niên đã học chữ Nho phải học thêm chữ Quốc ngữ và chữ Tây. Sau một hai năm, họ được cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy trong làng. Thời kỳ này chưa có hệ thống hóa sách giáo khoa, các thầy giáo làng tự nghĩ ra bài dạy. Dưới đây là các bài học thuộc lòng do cụ Việt Cúc ghi chép:
Bài khuyến học
Mấy lời mẹ dạy đinh ninh
Vào trường con cố học hành đừng chơi
Viết cho sạch sẽ hẳn hòi
Tay không nên để mực bôi cùng vào
Nghe lời dặn bảo âm hao
Nghĩ rằng lời mẹ lẽ nào dám quên
Học sao cho đặng thầy khen
Thầy khen ắt hẳn mẹ yên tấm lòng.
Công ơn cha mẹ
Mẹ nhai cơm búng lưỡi lừa xương
Trai gái đồng đều cũng một thương
Trai học văn chương thông nghĩa lý
Gái lo canh cửi biết khiêm nhường
Lưới trời lồng lộng ơn dường ấy
Bể rộng mông mênh, nghĩa khó lường.
Khuyên nông tang
Gắn công như việc tằm tang
Nhỏ thì siêng học, lớn cần siêng năng
Nhờ trời hòa cốc phong đăng
Cây lúa cũng tốt, nuôi tằm cũng tươi
Mai sau khôn lớn nên người
Ở cùng chúng bạn trọn đời thủy chung
Thấy ai đói rách khốn cùng
Ra tay tế độ giúp cùng ban ơn
Mựa là mua oán chác hờn
Thì là họa ít phước dơn sẽ nhiều...
Vai trò của Trương Vĩnh Ký
Từ nhu cầu giảng dạy, nhiều nhà giáo ở Nam kỳ đã tiên phong soạn sách giáo khoa. Nhà bác học Trương Vĩnh Ký đã soạn nhiều sách đến nỗi học giả Phạm Quỳnh nhận xét: "Ông Trương chẳng qua là một nhà làm sách giáo khoa thường cho con nít học mà thôi" (Nam phong tạp chí số 16, X.1918, tr.198). Dưới đây là bài học do Trương Vĩnh Ký soạn:
Khuyến học
Ngon là mật mỡ tốt vàng son
Vì học mà nên ớ các con
Kinh sử kệ ca là của tốt
Văn chương chữ nghĩa ấy mùi ngon
Cơm cha áo mẹ sâu tày biển
Nợ nước nợ nhà tợ nước non
Hai chữ công danh tua gắng chí
Tôi ngay con thảo nước nhà còn.
Ông đã biên soạn nhiều sách như Alphabet Quốc ngữ (sách vần Quốc ngữ - 1876), Alphabet Francais (phép đánh vần tiếng Pháp - 1885), Sơ học vấn tân Quốc ngữ diễn ca (1884), Tam tự thiên giải âm tự học toát yếu (1887), Huấn mông khúc ca, Sách dạy trẻ nhỏ học chữ Nhu (1884). Trong cuốn I của bộ sách giáo khoa tiểu học, Trương Vĩnh Ký viết: "Chữ Quốc ngữ phải trở thành chữ viết của đất nước. Phải như thế vì lợi ích và sự tiến hóa. Vậy, người ta nên tìm cách phổ biến thứ chữ này bằng mọi phương tiện." (còn tiếp)



