Sau khi Bộ GD&ĐT công bố đáp án môn Ngữ văn kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhiều học sinh tiếp tục đặt câu hỏi về mức độ mở của cách chấm, đặc biệt với những bài làm có cách tiếp cận khác đáp án chính thức.
Đáp án có độ mở nhất định
Cô Đình Thị Thủy, giáo viên Ngữ Văn trường THCS - THPT Phenikaa (Hà Nội), nhận định đáp án và hướng dẫn chấm câu hỏi về “Steve Jobs Việt Nam” đã có độ mở nhất định. Các giải pháp mang tính đồng bộ, đa chiều, từ giải pháp quyết liệt trong nhận thức, hành động của cá nhân đến sự khích lệ tinh thần và ủng hộ của cơ chế, chính sách, quan điểm xã hội.
Đáp án không ép khuôn mẫu theo một trình tự, đảm bảo cơ hội cho học sinh thể hiện trải nghiệm cá nhân và hiểu biết xã hội. Tuy nhiên, xuất phát từ câu hỏi “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?”, cô Thủy cho rằng câu hỏi là một ẩn dụ nhưng vẫn khiến học sinh có cảm giác đề đang áp đặt rằng cần hướng đến hình mẫu là người vĩ đại, có đóng góp lớn mà lại là đóng góp ở lĩnh vực công nghệ.
Cách đặt vấn đề của đề bài dễ gây cảm giác người viết phải “ép” mình vào những hình mẫu tiêu biểu, thần tượng hóa những cá nhân kiệt xuất, coi công nghệ như thước đo duy nhất của phát triển. Trong khi đó, đáp án chưa mạnh dạn đề xuất ý phản biện trái chiều mà chỉ lưu ý chung “xem xét tính thuyết phục của bài viết để chấm điểm”.
Ví dụ, học sinh hoàn toàn có thể phản biện rằng công nghệ quan trọng, nhưng mỗi cá nhân có thiên hướng, bản sắc riêng, phát huy tối đa năng lực bản thân, đóng góp cho xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào cũng đáng trân trọng.
Hướng dẫn chấm chưa hoàn toàn xóa bỏ băn khoăn
Cô T.L., giáo viên Ngữ văn tại một trường THPT ở Hà Tĩnh, cũng cho rằng đáp án chính thức chưa hoàn toàn xóa bỏ những băn khoăn về đề thi. Cụ thể, theo cô L., toàn bộ hệ thống ý gợi ý vẫn được xây dựng theo hướng trả lời câu hỏi “làm thế nào để có Steve Jobs Việt Nam”, thay vì mở rộng sang khả năng phản biện tiền đề của đề bài.
Đáp án chưa gợi mở các hướng tranh luận như Việt Nam có thực sự cần một hình mẫu tương tự Steve Jobs hay không, sự phát triển đất nước có nhất thiết phụ thuộc vào các cá nhân kiệt xuất hay vai trò của đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư và người lao động bình thường. “Điều này có thể khiến một số giám khảo vô thức ưu tiên những bài viết đi theo hướng đồng thuận với đề bài”, cô nói.
Dù vậy, cô đánh giá tích cực ở chỗ Bộ GD&ĐT vẫn duy trì tinh thần chấm mở. Điều này thể hiện qua việc đáp án ở các phần khác nhiều lần nhấn mạnh các yêu cầu như “diễn đạt tương đương”, “thí sinh có thể nêu theo cách khác”, miễn bảo đảm tính logic và phù hợp với yêu cầu nghị luận. “Nếu tinh thần này được quán triệt đầy đủ tới giám khảo, những bài viết phản biện hợp lý sẽ không bị thiệt thòi”, cô L. nhấn mạnh.
“Giải pháp kỹ thuật” của Bộ GD&ĐT
Trước đó, dư luận cũng có nhiều lo ngại về việc ngữ liệu liên quan đến Steve Jobs có thể gây khó cho học sinh các khu vực khó khăn do rào cản tiếp cận thông tin. Nhìn vào ba-rem và hướng dẫn chấm, cô Thủy nhận định bộ đã có một số “giải pháp kỹ thuật” nhằm giảm áp lực về khác biệt vùng miền và điều kiện tiếp cận thông tin.
- Thứ nhất, đáp án không yêu cầu học sinh phải có hiểu biết chuyên sâu về Steve Jobs, Mark Zuckerberg hay Elon Musk, mà chỉ xem đây là gợi dẫn để bàn về khát vọng, năng lực sáng tạo và môi trường nuôi dưỡng nhân tài công nghệ.
- Thứ hai, hướng dẫn chấm cho phép thí sinh sử dụng bằng chứng từ thực tế đời sống và trải nghiệm cá nhân, không bắt buộc dẫn chứng phải là những nhân vật công nghệ nổi tiếng toàn cầu.
- Thứ ba, đáp án mở rộng hướng triển khai từ bình diện cá nhân, cộng đồng, ghi nhận quan điểm riêng, coi trọng tư duy độc lập, ghi nhận cả quan điểm đa chiều của học sinh như dám thử, sai, dám chấp nhận thất bại.
Tuy vậy, cô giáo cho rằng mức độ công bằng này chủ yếu được bảo đảm ở khâu chấm, chưa hoàn toàn giải quyết được rào cản ở khâu tiếp nhận đề. Các em học sinh vùng khó khăn, ít có điều kiện tiếp xúc với thông tin công nghệ toàn cầu vẫn có thể bị “ngợp” và lúng túng trong cách giải quyết vấn đề.
Ngay cả các em học sinh ở thành phố, có hiểu biết cũng loay hoay khi tìm dẫn chứng và giải pháp để trả lời câu hỏi làm thế nào để có vĩ nhân mang tầm vóc toàn cầu.
Rubric chấm điểm tạo khung tham chiếu minh bạch
Đây là năm đầu tiên môn Ngữ văn áp dụng phương pháp chấm thi sử dụng rubric ở những phần cần thiết, trong đó có câu nghị luận xã hội. Theo cô Thủy, việc này cho thấy nỗ lực rõ rệt của Bộ GD&ĐT trong việc chuẩn hóa hoạt động chấm thi, nhất là ở những phần viết đoạn, bài văn. Bởi lẽ, đây là phần vốn dễ bị chi phối bởi cảm nhận chủ quan của giám khảo.
Bảng rubric đã chia điểm thành các tiêu chí cụ thể: Nội dung kiến thức, kỹ năng phân tích - lập luận, hình thức và ngôn ngữ. Mỗi tiêu chí lại được mô tả theo 4 mức độ đạt được, kèm thang điểm tương ứng. Đây là thang đo mang tính định lượng, đảm bảo không cho phép những “quan điểm cảm tính” can thiệp sâu vào kết quả bài thi.
Điểm cộng cho hình thức chấm theo thang rubric là sự tách bạch giữa nội dung, lập luận và hình thức diễn đạt, nội hàm của các phần này lại được cụ thể hóa bằng các ý “đong đếm được”. Ví dụ, phần giải pháp được quy định theo số lượng ý học sinh triển khai ở phía cá nhân và xã hội; phần lập luận được đánh giá qua khả năng trình bày quan điểm, lựa chọn thao tác nghị luận và sử dụng bằng chứng.
Cách thiết kế này góp phần hạn chế tình trạng chấm lỏng hoặc chấm chặt, buộc giám khảo phải đối chiếu bài làm với các biểu hiện cụ thể ở từng mức. Tuy nhiên, cô Thủy nhận định rubric không triệt tiêu hoàn toàn yếu tố chủ quan, nhất là ở các tiêu chí như “lập luận chặt chẽ”, “bằng chứng thuyết phục” hay “hành văn trong sáng, giàu cảm xúc”. Bởi lẽ, đây cũng là đặc thù của môn Ngữ văn.
“So với cách chấm truyền thống, rubric đã tạo ra một khung tham chiếu minh bạch hơn, giúp việc chấm thi công bằng, nhất quán và có khả năng kiểm soát tốt hơn”, cô Thủy nói.
Lời khuyên cho học sinh khóa sau
Từ đề thi và đáp án chính thức năm nay, có thể thấy câu nghị luận xã hội không vượt ra ngoài khuôn khổ của những định hướng bộ đã công bố trước đó về đề thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, theo cô Thủy, đề đã mở rộng biên độ, kiểm tra mức độ quan tâm đến các vấn đề. Yêu cầu của đề cũng cụ thể, đánh thức nhận thức, tư duy có căn cứ, đảm bảo tính thuyết phục cao của học sinh.
Cô Thủy khuyên các học sinh khóa sau cần thay đổi cách ôn tập: Không chỉ luyện “viết cho hay”, mà phải luyện cách tư duy rõ, cung cấp thông tin có căn cứ và tính thuyết phục cao. Các em cần đọc kỹ gợi dẫn để xác định đúng vấn đề nghị luận, trả lời đúng trọng tâm; luôn sử dụng tư duy logic, khoa học trong trình bày và triển khai ý. Bên cạnh đó, các em nên mạnh dạn thể hiện quan điểm cá nhân, đề cao tư duy phản biện, đa chiều.
“Muốn có đoạn, bài văn như vậy, các em cần rèn thói quen quan sát đời sống, cập nhật các vấn đề xã hội, công nghệ, giáo dục, văn hóa, môi trường; nhạy cảm và có chiều sâu văn hóa; biết sử dụng trải nghiệm cá nhân như một nguồn dẫn chứng để tạo màu sắc cá nhân trong bài viết”, cô Thủy nói.



