Cựu tù chính trị Cần Thơ nhớ về một thời thanh xuân quên mình vì độc lập
Cựu tù chính trị Cần Thơ nhớ về thời thanh xuân vì độc lập

Hằng năm, vào ngày kỷ niệm thống nhất đất nước 30 tháng 4, ông Phan Thanh Sĩ, 81 tuổi, Chủ tịch Hội Người tù kháng chiến Thành phố Cần Thơ, lại xúc động hồi tưởng về tuổi trẻ đã cống hiến trọn vẹn cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Ông là người con của xã Thạnh Xuân, vùng đất giàu truyền thống cách mạng, từng lừng danh với chiến công thu pháo 105mm của thực dân Pháp.

Những năm tháng chiến đấu kiên cường

Năm 1961, khi mới 16 tuổi và còn ngồi trên ghế nhà trường, ông Sĩ đã tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên phản đối Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Với tinh thần "áo học sinh nhưng lòng chiến sĩ", ông tham gia bãi khóa, biểu tình, rải truyền đơn, viết khẩu hiệu chống giặc. Chàng thiếu niên khi ấy đã thực hiện những vụ đánh phá gây tiếng vang lớn như đốt kho xăng của địch ở lộ 91 (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám), tấn công cư xá Mỹ ở đường Duy Tân (nay là đường Hoàng Văn Thụ), ném lựu đạn phá hoại cuộc bầu cử giả hiệu của chính quyền Sài Gòn. Khát khao nối tiếp bước chân cha anh đã đưa ông Sĩ dần trở thành một thành viên tinh nhuệ của lực lượng Biệt động Cần Thơ, hoạt động ngay trong lòng địch.

Cuộc vượt ngục không thành và viên đạn xuyên bụng

Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968, ông Sĩ bị trúng đạn ở vai và rơi vào tay địch. Sau khi xử án, chính quyền Sài Gòn tuyên phạt ông 15 năm tù và giam cầm tại Khám lớn Cần Thơ. Tại đây, ông bị nhốt cùng 5 người tù chính trị khác. Với sự nhạy bén, họ nhận ra sơ hở của địch là khi người tù bị bệnh nặng sẽ được đưa ra khỏi trại giam để qua Bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa chữa trị (nay là vị trí của Bệnh viện Đa khoa TP. Cần Thơ). Tuy trong bệnh viện cũng có khám giam và lính canh nhưng lực lượng mỏng. Nghĩ thế, 6 người đã vạch ra một kế hoạch vượt ngục táo bạo bằng cách giả bệnh.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Để đánh lừa lính canh, ông Sĩ đã dùng những phương pháp khắc nghiệt nhất. Đó là lấy gai nhím chích vào các đầu móng tay cho chảy máu rồi nuốt vào. Sau đó, ông lấy ráy tai của mình ăn để nôn, tạo hiện trường giả như bị xuất huyết dạ dày do ngộ độc. Mưu kế thành công, cả nhóm được chuyển sang bệnh viện điều trị. Sau hơn 1 tháng chuẩn bị, họ dùng vũ khí tự tạo khống chế lính canh, rồi dùng chính súng của địch để diệt địch. Song, do không thể che kín kẽ tai mắt của địch nên còi báo động reo lên, lính lập tức bao vây. Chỉ có 4 người kịp thời chạy thoát về vùng giải phóng. "Tôi và một người nữa yểm trợ đi sau cùng vượt rào không kịp nên bị bắt lại. Tôi thì bị bắn một viên đạn vào lưng xuyên thủng bụng, may mắn còn sống sót", ông Sĩ nói và chỉ vào một vết mổ dài còn để lại sẹo ở bụng. Bị bắt sống, ông Sĩ bị giam lại ở Khám lớn Cần Thơ. Đến 8 tháng sau, chính quyền Sài Gòn xử án lại, phán quyết ông tù chung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Ký ức hồi sinh không thể quên

Theo ông Sĩ, trong nhà tù Côn Đảo, dù là một chiến trường không vũ khí nhưng vô cùng ác liệt khi chuyển sang hình thái đấu tranh giữ khí tiết. Người tù đòi quyền dân sinh dân chủ và cái giá phải trả có thể là những trận đòn roi dã man khiến tù nhân thương tích đầy người. Tuy nhiên, âm mưu làm nhụt chí người cách mạng của địch bất thành. Bởi dù bị cô lập và tra tấn, những người tù chính trị vẫn đoàn kết chặt chẽ. Nhất là tại Côn Đảo, tổ chức này càng bền chặt vì có rất nhiều người đã bị giam cầm suốt 10 năm, 20 năm. Ông Sĩ tự hào nói: "Trái ngược với sự đả kích, xuyên tạc của địch, chúng tôi truyền tay nhau những bài thơ của Bác Hồ, của Tố Hữu để giữ tinh thần kiên định, lạc quan".

Năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Lúc này nhà tù Phú Quốc đã thả người về theo nghị định thư, song các phạm nhân ở Côn Đảo thì vẫn tiếp tục bị giam cầm. Mọi người biết Mỹ và chính quyền Sài Gòn chưa từ bỏ cuộc chiến này nên vẫn rất cảnh giác. "Địch yêu cầu chúng tôi phải lăn tay, chụp hình, vì đó là thủ tục cần thiết để trao trả tù nhân về. Nhưng một khi lăn tay vào đó thì chúng sẽ tráo hồ sơ, chuyển những người tù chính trị thành những tù thường phạm, tù án, phá rối trị án để tiếp tục nhốt lại", ông Sĩ kể.

Ông Sĩ kể phải đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cánh cửa ngục tù ở Côn Đảo mới thật sự mở ra. Giây phút giám thị mang chìa khóa đến mở cửa, nhiều tù nhân vẫn ngỡ ngàng không tin đó là sự thật. Không ai dám bước ra vì sợ địch âm mưu đàn áp, giết hại. Mãi đến khi nghe radio phát thanh tin mừng thắng trận, mọi người mới tin đất nước đã thống nhất. "Những người bệnh nằm liệt giường cũng cố bật dậy. Người bị xiềng xích cố bò đến bên nhau chia sẻ niềm hạnh phúc được tự do. Ai cũng vỡ òa như hồi sinh từ cõi chết", ông Sĩ nói.

Ngày 30 tháng 4, nghĩ về thanh xuân của mình và đặt nhiều kỳ vọng vào thế hệ trẻ hôm nay, ông Sĩ nhắn gửi: "Tuổi thanh xuân của tôi qua đi trong chiến tranh gian khổ, trường kỳ. Thế nhưng đó là một sự lựa chọn đúng đắn khiến bản thân không phụ lòng người đi trước và hổ thẹn với thế hệ mai sau. Và giờ đây, chiến tranh đã khép lại rồi, nhiệm vụ của các bạn trẻ là sẽ viết chương mới về một đất nước phát triển, ấm no, hạnh phúc. Tôi rất kỳ vọng vào các bạn."