Mô hình chăm sóc người cao tuổi ban ngày: Giải pháp an sinh giữa lúc già hóa dân số
Mô hình chăm sóc người cao tuổi ban ngày: Giải pháp an sinh

Nhu cầu chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt tại các đô thị lớn. Mô hình chăm sóc ban ngày tại các trung tâm dưỡng lão đang trở thành giải pháp được nhiều gia đình lựa chọn.

Mô hình chăm sóc ban ngày: Giải pháp cho người cao tuổi và gia đình

Vào lúc 7 giờ sáng, xe của Viện dưỡng lão Bách Niên Thiên Đức (phường Tây Hồ, Hà Nội) bắt đầu đón những cụ già đã đăng ký dịch vụ chăm sóc ban ngày. Sau khi được đưa tới cơ sở, các cụ tham gia nhiều hoạt động như tập phục hồi chức năng, kiểm tra sức khỏe định kỳ, sinh hoạt văn nghệ, đọc sách hay trò chuyện cùng nhân viên chăm sóc trước khi trở về nhà vào cuối buổi chiều.

Bà Nguyễn Thị Hồng, 72 tuổi, sống tại phường Cầu Giấy (Hà Nội) cho biết, con trai và con dâu đều đi làm cả ngày, cháu nội đi học nên phần lớn thời gian bà ở nhà một mình. “Đến trung tâm tôi có người trò chuyện, được theo dõi sức khỏe và tham gia các hoạt động tập thể. Quan trọng nhất là con cháu yên tâm hơn”, bà Hồng chia sẻ.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Trong khi đó, chị Nguyễn Mai Lan, 46 tuổi, ở phường Thanh Xuân (Hà Nội), cho biết, áp lực chăm sóc bố chồng già yếu khiến chị nhiều lúc quá tải. Chồng thường xuyên công tác xa, hai con đang tuổi đi học, công việc tại một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng chiếm phần lớn thời gian trong ngày. “Tôi thật sự rất cần sự hỗ trợ của những người làm nghề chăm sóc người cao tuổi có chuyên môn. Nhưng hiện nay rất khó tìm được người phù hợp”, chị Lan nói.

Theo TS Trương Xuân Cừ, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, trong khi số người cao tuổi tăng nhanh thì mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ cùng chung sống đang giảm dần. Người cao tuổi ngày càng ít sống cùng con cháu, dẫn tới nhu cầu chăm sóc chuyên nghiệp ngày càng lớn. Việc mở các mô hình chăm sóc ban ngày sẽ đỡ tốn kém hơn so với trung tâm chăm sóc cả ngày (nội trú), phù hợp với nhiều người cao tuổi còn khả năng tự đi lại. Không chỉ góp phần duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần, mô hình này còn tạo cơ hội để người cao tuổi giao lưu, chia sẻ với bạn đồng niên, qua đó giảm cảm giác cô đơn và giúp họ sống vui, sống khỏe hơn.

Thiếu nhân lực có chuyên môn

Mặc dù nhu cầu tăng nhanh, việc phát triển các trung tâm chăm sóc người cao tuổi vẫn gặp nhiều khó khăn. Theo ghi nhận tại một số cơ sở dưỡng lão ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu nhân lực được đào tạo bài bản. Số liệu thống kê cho thấy cả nước hiện có gần 135 nghìn tình nguyện viên chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, nhưng chủ yếu là cộng tác viên dân số và phần lớn chưa được đào tạo chuyên môn. Trong khi đó, số nhân viên y tế được đào tạo hoặc tập huấn về lão khoa mới đạt khoảng 7.849 người.

Ông Nguyễn Tuấn Ngọc, Giám đốc Hệ thống chăm sóc Người cao tuổi Bách Niên Thiên Đức cho biết, chăm sóc người cao tuổi không đơn thuần là hỗ trợ ăn uống hay sinh hoạt hằng ngày. Người chăm sóc phải có kiến thức về điều dưỡng, tâm lý, phục hồi chức năng, dinh dưỡng và xử lý các tình huống y khoa khẩn cấp. “Chúng tôi có thể tuyển được lao động phổ thông, nhưng rất khó tuyển người có chuyên môn phù hợp. Sau khi tuyển dụng, trung tâm thường phải đào tạo lại từ đầu”, ông Ngọc cho biết.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Tuyển đã khó, giữ chân đội ngũ điều dưỡng, nhân viên chăm sóc lại càng khó hơn. “Người cao tuổi không giống các nhóm đối tượng khác. Các cụ thường mắc nhiều bệnh mạn tính cùng lúc, sức khỏe thay đổi nhanh, lại có những nhu cầu rất đặc thù về tâm lý. Điều dưỡng không chỉ hỗ trợ ăn uống, vệ sinh cá nhân mà còn phải trò chuyện, động viên tinh thần, xử lý các tình huống khẩn cấp về sức khỏe. Công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và trách nhiệm rất cao, trong khi thu nhập chưa thật sự hấp dẫn nên nhiều người trẻ không gắn bó lâu dài với nghề”, ông Nguyễn Tuấn Ngọc chia sẻ.

Thực tế cho thấy, đây không phải khó khăn riêng của một cơ sở. Theo Cục trưởng Dân số Lê Thanh Dũng, số lượng bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế chuyên ngành lão khoa hiện còn thiếu so với nhu cầu. Ở tuyến cơ sở, phần lớn nhân viên y tế xã, phường, cộng tác viên dân số hay nhân viên công tác xã hội chưa được đào tạo chuyên sâu về chăm sóc người cao tuổi. Đáng chú ý, đến nay Việt Nam vẫn chưa có đội ngũ “nhân viên chăm sóc người cao tuổi” chính quy, chưa có mã nghề nghiệp và cũng chưa có chương trình đào tạo chính thức ở các bậc trung cấp, cao đẳng hay đại học. Đây được xem là khoảng trống lớn trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc dài hạn đang tăng nhanh.

Theo các dự báo dân số, số lượng người cao tuổi tại Việt Nam tiếp tục tăng nhanh trong giai đoạn 2025-2030, từ mức khoảng 14,2 triệu người năm 2024 lên gần 18 triệu người vào năm 2030. Tuổi thọ bình quân hiện đạt 74,7 tuổi nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65,4 tuổi. Điều đó đồng nghĩa mỗi người Việt Nam trung bình có khoảng 8 năm sống trong tình trạng bệnh tật hoặc suy giảm chức năng. Đáng chú ý, khoảng 70% số người cao tuổi mắc từ hai bệnh trở lên.

Thiếu cả cơ chế

Bên cạnh bài toán nhân lực, các trung tâm chăm sóc người cao tuổi còn gặp nhiều khó khăn về tài chính và cơ chế hoạt động. Theo TS Trương Xuân Cừ, đến năm 2024, cả nước mới có hơn 300 trung tâm chăm sóc người cao tuổi với khoảng 11 nghìn người được phục vụ. Con số này còn rất khiêm tốn so với hơn 14 triệu người cao tuổi hiện nay. Trong khi đó, hệ thống cơ sở chăm sóc hiện phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị lớn. Hơn 70% số người cao tuổi sống ở khu vực nông thôn vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp.

Ông Tạ Văn Hạ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đóng góp, các địa phương cần chủ động xây dựng thiết chế chăm sóc người cao tuổi tại phường, xã; đồng thời tận dụng cơ sở vật chất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính để phát triển các mô hình chăm sóc cộng đồng. Các chuyên gia cũng cho rằng, Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn để thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư.

Giáo sư Giang Thanh Long, Trường đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, để doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này, cần có chính sách rõ ràng về đất đai, thuế, tiêu chuẩn cơ sở vật chất và nhân lực. Đồng thời, phải đa dạng hóa dịch vụ phù hợp với khả năng chi trả của từng nhóm người dân.

Theo các chuyên gia, già hóa dân số không còn là câu chuyện của tương lai mà đã là thực tế của hiện tại. Vì vậy, phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi cần được xem là một trụ cột mới của chính sách an sinh xã hội. “Cần sớm đưa nghề chăm sóc người cao tuổi vào danh mục nghề nghiệp quốc gia, xây dựng mã ngành đào tạo chính quy và chuẩn hóa kỹ năng nghề nghiệp”, Cục trưởng Dân số Lê Thanh Dũng nói.

Bà Đặng Huyền, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam cũng đề xuất, đội ngũ chăm sóc cần được đào tạo bài bản, chuyên sâu theo từng cấp độ và phù hợp với nhu cầu của người cao tuổi. Việc đào tạo phải được chuẩn hóa, tăng cường tính thực hành để đáp ứng yêu cầu của các mô hình chăm sóc tại gia đình, cộng đồng và cơ sở chuyên biệt.

Theo PGS, TS Phạm Tiến Nam, Trường đại học Y tế công cộng, cùng với việc huy động nguồn lực xã hội hóa, cần chú trọng xây dựng mạng lưới chăm sóc ngay tại gia đình và cộng đồng, giúp người cao tuổi được theo dõi sức khỏe, phục hồi chức năng và tham gia các hoạt động văn hóa, tinh thần phù hợp.

Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, các mô hình trung tâm chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi đã được triển khai khá thành công tại Anh, Mỹ, Singapore hay Hà Lan. Điểm chung của các mô hình này là kết hợp giữa chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tinh thần và duy trì kết nối xã hội cho người cao tuổi. Tại Việt Nam, việc phát triển các trung tâm chăm sóc bán trú, chăm sóc trong ngày hay chăm sóc tại cộng đồng được đánh giá là hướng đi phù hợp trong bối cảnh già hóa dân số nhanh và cấu trúc gia đình đang thay đổi.

Tuy nhiên, để những mô hình này thật sự trở thành một trụ cột an sinh mới như kỳ vọng, điều quan trọng không chỉ là xây thêm các cơ sở chăm sóc mà còn phải chuẩn bị được đội ngũ nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chuyên môn và có cơ chế hoạt động bền vững.