Khâu lại lưới an sinh: Đề xuất BHXH bắt buộc với tài xế công nghệ và người bán hàng online
Khâu lại lưới an sinh: Đề xuất BHXH bắt buộc với lao động nền tảng

Mỗi khi có đề xuất đưa tài xế công nghệ hay người bán hàng online vào diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, lập luận phản đối quen thuộc lại vang lên: đây là lao động tự do, họ chọn sự linh hoạt thay cho ràng buộc, và Nhà nước không nên ép họ vào nghĩa vụ không mong muốn.

Cách gọi tên ấy nghe có vẻ tôn trọng quyền tự do, nhưng thực tế lại che giấu một điều ngược lại. Phần lớn những người này không thực sự tự do như một người làm chủ công việc, mà là người làm công đã bị tước mất tấm lưới bảo vệ ngay từ cách thiết kế hợp đồng.

Kiến nghị mới đây của Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh vì thế không phải là sự mở rộng tay của nhà nước vào khu vực lao động tự do, mà là một nỗ lực khâu lại phần lưới an sinh đã bị rách. Đề xuất này nằm đúng trong mạch chính sách, không phải một sáng kiến đột ngột. Cần nhớ rằng quyền được bảo đảm an sinh xã hội là quyền hiến định, được ghi tại Điều 34 Hiến pháp năm 2013.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bối cảnh chính sách và pháp lý

Nghị quyết 28-NQ/TW năm 2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội đặt mục tiêu hướng tới bảo hiểm xã hội toàn dân, với khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia vào năm 2025 và 60% vào năm 2030. Trên tinh thần đó, khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa phép thử bản chất vào luật, coi mọi thỏa thuận có nội dung trả công và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát là quan hệ lao động dù mang tên gọi gì.

Điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2024 kế thừa đúng tinh thần ấy. Nhà làm luật đã chọn bản chất làm thước đo, và kiến nghị của Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh chỉ làm một việc: biến lựa chọn đó thành quy tắc vận hành trên thực tế.

Khó đạt mục tiêu bằng vận động tự nguyện

Có ý kiến cho rằng vì điều khoản bản chất đã nằm sẵn trong luật nên không cần thêm đối tượng, việc cần làm chỉ là thực thi nghiêm. Lập luận này đúng một nửa. Một nguyên tắc nằm trên giấy không tự nó bảo vệ ai nếu việc kích hoạt đòi hỏi từng người lao động phải tự đứng ra chứng minh mình là người làm công.

Trong cuộc tranh chấp đó, người yếu thế nhất lại phải gánh nghĩa vụ chứng minh nặng nhất. Còn bên nắm hợp đồng, dữ liệu chấm công và dòng tiền là doanh nghiệp hoặc nền tảng. Một quyền mà phải đi kiện mới có thì trên thực tế chỉ bảo vệ số ít người đủ sức theo đuổi. Việc định danh rõ nhóm đối tượng làm được điều mà nguyên tắc trừu tượng không làm được: nó đảo chiều mặc định, từ chỗ người lao động bị loại trừ trừ khi tự chứng minh ngược lại, sang chỗ họ được bao phủ trừ khi có bằng chứng ngược lại.

Sự dịch chuyển gánh nặng chứng minh đó mới là lý do thật sự để luật hóa cụ thể nhóm đối tượng, thay vì phó mặc cho điều khoản bản chất tự xoay xở.

Quy mô khoảng trống an sinh

Đến hết năm 2024, cả nước có khoảng 20,11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tương đương 42,71% lực lượng lao động trong độ tuổi. Con số này vẫn thấp hơn mục tiêu 45% mà Nghị quyết 28 đặt ra cho năm 2025. Ở chiều còn lại, lao động phi chính thức năm 2024 vào khoảng 33 triệu người, chiếm khoảng 64,6% tổng số lao động.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Khoảng cách giữa hai con số đó không thể khép lại bằng vận động tham gia tự nguyện, bởi phần lớn nhóm chưa được bao phủ không phải lao động tự do thật sự, mà là lao động làm công bị giữ ở trạng thái phi chính thức một cách có chủ đích.

Những nhóm mà Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nêu tên chính là nơi hiện tượng này tập trung dày nhất. Tài xế công nghệ chịu sự điều phối của thuật toán, bị chấm điểm, bị phạt và bị khóa tài khoản, tức chịu sự quản lý còn chặt chẽ hơn nhiều công việc có hợp đồng chính thức. Công nhân xây dựng bị ký hợp đồng dưới một tháng nối tiếp nhau cho một công trình kéo dài nhiều tháng. Đây không phải sự linh hoạt do người lao động lựa chọn, mà là kỹ thuật né nghĩa vụ do bên sử dụng lao động thiết kế.

Cơ chế thu thông minh và giải pháp đi kèm

Điểm thông minh của kiến nghị nằm ở cơ chế thu. Theo hướng đề xuất, khoản đóng được thu qua tổ chức vận hành ứng dụng, qua nhà quản lý sàn thương mại điện tử và nền tảng có chức năng thanh toán. Nghĩa là nghĩa vụ được đặt lên đúng bên đang nắm dòng tiền và dữ liệu, thay vì đặt lên vai người lao động vốn không có công cụ để tự thực hiện.

Hai kiến nghị đi kèm còn quan trọng hơn cả việc gọi tên đối tượng. Đề xuất không cho doanh nghiệp khấu trừ chi phí tiền lương khi tính thu nhập chịu thuế nếu không đóng bảo hiểm cho người lao động đã biến việc tuân thủ thành lựa chọn có lợi hơn về kinh tế so với trốn đóng. Đề xuất buộc người sử dụng lao động cung cấp dữ liệu lao động và tiền lương khép lại khoảng cách giữa số người khai và số người thực đóng.

Khi dữ liệu thuế, đăng ký kinh doanh và bảo hiểm được đối chiếu với nhau, điều đã có khung từ quy chế chia sẻ dữ liệu giữa ngành bảo hiểm và ngành thuế ký năm 2021 và Nghị định 278/2025/NĐ-CP, hành vi khai thiếu sẽ khó ẩn mình. Định danh đối tượng và siết thực thi không phải hai lựa chọn loại trừ nhau, mà là hai vế của cùng một giải pháp.

Nỗi lo về gánh nặng tài chính

Nỗi lo chính đáng nhất với đề xuất này là gánh nặng tài chính cho nhóm thu nhập thấp và bấp bênh. Nhưng đây là chỗ cần thiết kế kỹ, chứ không phải lý do để khước từ bao phủ. Căn cứ đóng nên gắn với thu nhập thực tế mà nền tảng chi trả, vốn là dữ liệu nền tảng nắm rõ tới từng chuyến xe, từng đơn hàng, thay vì áp một mức sàn cứng nhắc.

Phần đóng của bên sử dụng lao động cần được xác định rõ để người lao động không phải gánh toàn bộ, đúng tinh thần một quan hệ làm công có chia sẻ trách nhiệm. Với thu nhập biến động, có thể tính tới lộ trình và phương thức đóng linh hoạt theo tháng, ba tháng hoặc sáu tháng như Luật Bảo hiểm Xã hội đã mở đường. Một chính sách bao phủ được thiết kế tốt sẽ khiến người lao động thấy mình được bảo vệ, chứ không thấy mình bị tận thu.

Định nghĩa lại tự do trong thị trường lao động mới

Cuối cùng, tranh luận này buộc chúng ta định nghĩa lại hai chữ tự do trong thị trường lao động mới. Một người lái xe mười giờ mỗi ngày dưới sự điều phối của thuật toán, không có chế độ ốm đau, thai sản, không tích lũy gì cho tuổi già thì sự linh hoạt họ có được liệu có đáng gọi là tự do, hay chỉ là sự phơi mình trước rủi ro mà người làm công có hợp đồng đã được luật che chắn?

Câu hỏi cho lần sửa luật này không phải là có nên để yên cho lao động nền tảng tự lo liệu hay không, mà là chúng ta có chấp nhận một thị trường lao động nơi sự linh hoạt được trả giá bằng việc tước đi tấm lưới an sinh của chính người yếu thế nhất hay không? Kiến nghị của Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, dù vẫn cần hoàn thiện về kỹ thuật, đang đi đúng hướng của câu trả lời.