Vấn đề chăm sóc sức khỏe người lao động không chỉ đơn thuần là một chính sách an sinh xã hội, mà còn là yếu tố bảo đảm năng suất lao động và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người lao động vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chi phí điều trị vẫn là gánh nặng
Không ít doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc chăm sóc sức khỏe người lao động vẫn còn mang tính hình thức. Đơn cử, Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Minh Triệu (Khu công nghiệp Lai Xá, xã Hoài Đức, Hà Nội) là một doanh nghiệp cơ khí quy mô vừa. Công tác chăm sóc sức khỏe người lao động tại đây đã được quan tâm nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định.
Anh Nguyễn Văn Giáp, công nhân cơ khí làm việc tại đây được 3 năm, chia sẻ: “Hằng năm, chúng tôi được khám sức khỏe định kỳ nhưng còn khá sơ sài. Chủ yếu là đo huyết áp, cân nặng, thử máu cơ bản và chụp X-quang phổi. Việc khám diễn ra nhanh, mỗi người chỉ vài phút, hầu như không có phần tư vấn cụ thể. Trong khi đó, anh em làm việc trong môi trường nhiều bụi kim loại, tiếng ồn lớn nhưng chưa được kiểm tra chuyên sâu về thính lực hay chức năng hô hấp. Có người thường xuyên bị ù tai, ho kéo dài nhưng cũng không biết nên đi khám thêm ở đâu, vì đợt khám của công ty chưa phát hiện gì!”
Câu chuyện của anh Giáp không phải cá biệt. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp vẫn coi chi phí cho an toàn lao động, khám sức khỏe là “chi phí phụ”, thay vì “khoản đầu tư bắt buộc”. Một số nơi chưa trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ, chưa cải thiện môi trường làm việc, dẫn đến nguy cơ tai nạn và bệnh nghề nghiệp gia tăng. Thậm chí, vẫn tồn tại tình trạng vi phạm về điều kiện làm việc và bảo hiểm cho người lao động, đòi hỏi cơ quan chức năng phải tăng cường thanh tra, xử lý.
Tại Công ty TNHH May mặc Hưng Phát (Khu công nghiệp Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), một doanh nghiệp may quy mô hơn 300 lao động, phần lớn là lao động nữ, công tác chăm sóc sức khỏe đã được triển khai nhưng người lao động lại chưa mặn mà. Chị Nguyễn Thị Lan, công nhân may tại đây cho biết: “Với mức thu nhập khoảng 6-7 triệu đồng/tháng, việc xin nghỉ một ngày để đi khám đồng nghĩa với giảm thu nhập, chưa kể áp lực tiến độ đơn hàng. Vì vậy, không ít công nhân ngại đi khám. Mỗi năm, công ty đã hỗ trợ khoảng 300-500 nghìn đồng tiền khám sức khỏe định kỳ, trong khi nếu đi khám chuyên sâu hoặc kiểm tra thêm các bệnh nghề nghiệp, chi phí có thể lên tới 1-2 triệu đồng mỗi lần, chưa kể tiền thuốc và thời gian nghỉ việc. Vì vậy, nhiều công nhân dù có dấu hiệu bệnh vẫn chần chừ, chỉ đi khám khi tình trạng đã nặng hơn. Chúng tôi mong có thêm chính sách hỗ trợ thiết thực hơn để yên tâm chăm sóc sức khỏe lâu dài”.
Theo khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở các doanh nghiệp may quy mô vừa và nhỏ, việc chăm sóc sức khỏe người lao động vẫn chủ yếu dừng ở mức đáp ứng quy định, chưa thật sự gắn với đặc thù nghề nghiệp, trong khi nguy cơ về các bệnh cơ xương khớp, thị lực, căng thẳng lao động ngày càng gia tăng.
Hệ thống chính sách đầy đủ nhưng thực thi chưa đồng đều
Hệ thống chính sách như: Luật An toàn, vệ sinh lao động; Các quy định về khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp; Chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội; Các chương trình chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc… tương đối đầy đủ. Nhiều địa phương đã triển khai chương trình nâng cao sức khỏe người lao động, đặt mục tiêu quản lý sức khỏe, phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp và cải thiện điều kiện làm việc. Tuy nhiên, từ quy định đến thực tế vẫn còn khoảng cách.
Lao động khu vực phi chính thức, lao động thời vụ, lao động không có hợp đồng vẫn khó tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Việc tổ chức khám sức khỏe cũng còn hình thức, trong không ít trường hợp, việc thực hiện vẫn dừng lại ở mức tối thiểu. Khám sức khỏe định kỳ còn mang tính hình thức, chưa gắn với nguy cơ nghề nghiệp cụ thể. Điều kiện làm việc ở một số nơi vẫn tiềm ẩn yếu tố độc hại, trong khi trang bị bảo hộ chưa thật sự bảo đảm. Đáng chú ý, tình trạng chậm đóng, nợ đóng bảo hiểm ở một số doanh nghiệp vẫn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi khám, chữa bệnh của người lao động. Bên cạnh đó, một bộ phận lao động phi chính thức, lao động thời vụ gần như chưa được bao phủ bởi các chính sách chăm sóc sức khỏe.
Một vấn đề khác là công tác phòng ngừa bệnh nghề nghiệp chưa được quan tâm đúng mức. Khi việc tầm soát chưa hiệu quả, nhiều bệnh chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn, gây hệ lụy lâu dài cho cả người lao động và xã hội.
Cần chăm sóc sức khỏe thực chất
Bà Hồ Thị Kim Ngân, Phó Trưởng ban Quan hệ lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) nhận định, sức khỏe người lao động là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động. Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp chú trọng chăm sóc sức khỏe thường có lực lượng lao động ổn định hơn, hiệu quả sản xuất cao hơn. Khi người lao động được làm việc trong môi trường an toàn, được theo dõi sức khỏe thường xuyên, họ có xu hướng gắn bó lâu dài và cống hiến nhiều hơn. Ngược lại, nếu sức khỏe bị bào mòn, chi phí mà doanh nghiệp và xã hội phải gánh chịu sẽ lớn hơn rất nhiều so với khoản đầu tư ban đầu cho phòng ngừa.
Trong Tháng Công nhân năm nay, nhiều hoạt động thiết thực đã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn các cấp triển khai, từ khám sức khỏe miễn phí, tư vấn bệnh nghề nghiệp đến hỗ trợ người lao động khó khăn. Các chương trình đối thoại cũng tạo cơ hội để người lao động trực tiếp phản ánh những vấn đề liên quan đến điều kiện làm việc và sức khỏe. Ở không ít nơi, công đoàn đã chủ động giám sát việc thực hiện quy định về an toàn lao động, phối hợp với doanh nghiệp cải thiện môi trường làm việc... Tuy nhiên, với nhiều công nhân, một buổi đi khám không chỉ là tiền viện phí mà còn là một ngày mất thu nhập. Chính vì vậy, phải tiếp tục đổi mới hoạt động công đoàn. Ở một số doanh nghiệp, nhất là khu vực ngoài Nhà nước, công đoàn cơ sở vẫn còn hạn chế về năng lực và điều kiện hoạt động, khiến việc bảo vệ quyền lợi người lao động chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
PGS, TS, BS Nguyễn Lân Hiếu, đại biểu Quốc hội TP Hà Nội (khóa XVI) cho rằng, cần có hướng dẫn cụ thể để bảo đảm người lao động được tư vấn, điều trị đúng tuyến, tránh tình trạng tự ý sử dụng thuốc hoặc điều trị không phù hợp sau khi phát hiện bệnh. Đồng thời, việc lưu trữ dữ liệu khám sức khỏe theo thời gian là rất cần thiết, giúp theo dõi diễn biến bệnh và nâng cao hiệu quả điều trị.
Theo bà Hồ Thị Kim Ngân, trong bối cảnh cường độ lao động cao và môi trường làm việc tiềm ẩn nhiều nguy cơ, người lao động cần được hỗ trợ chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế vẫn còn hạn chế, đặc biệt tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Để khắc phục vấn đề này, cần tăng cường hơn nữa vai trò đại diện, giám sát của công đoàn, đồng thời hoàn thiện cơ chế để tiếng nói của người lao động được lắng nghe một cách thực chất.
BSCKII Y học lao động Nguyễn Ngọc Lân (Hệ thống Y tế Thu Cúc TCI), cho rằng: “Khám sức khỏe cho người lao động hiện nay ở nhiều nơi vẫn thiên về kiểm tra chung, trong khi đặc thù nghề nghiệp lại đòi hỏi phải tầm soát chuyên sâu hơn. Với công nhân cơ khí cần chú ý bệnh về thính lực, hô hấp; với ngành may mặc là các bệnh cơ xương khớp, thị lực. Để nâng cao hiệu quả, cần chuyển từ tư duy “khám cho đủ” sang “khám để phát hiện sớm và phòng ngừa”. Doanh nghiệp nên phối hợp với cơ sở y tế tổ chức khám theo nhóm nghề, đồng thời lập hồ sơ sức khỏe điện tử để theo dõi lâu dài. Quan trọng hơn là tăng cường tư vấn ngay sau khám, giúp người lao động hiểu rõ tình trạng sức khỏe và có biện pháp điều chỉnh kịp thời”.
Ông Đào Khắc Hùng, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh, nhấn mạnh: “Chính sách về chăm sóc sức khỏe người lao động không thiếu, vấn đề là thực thi chưa đồng đều. Thời gian tới, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Cùng với đó, địa phương sẽ đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ khám sức khỏe cho lao động khu vực phi chính thức, lao động thời vụ trong tiếp cận dịch vụ y tế. Việc huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức công đoàn và hệ thống y tế cơ sở sẽ là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người lao động một cách bền vững”.



