Theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất bình quân liên ngân hàng ở các kỳ hạn chủ chốt đang phản ánh trạng thái thanh khoản hệ thống có sự phân hóa đáng chú ý. Doanh số giao dịch ở kỳ hạn qua đêm chiếm tỷ trọng áp đảo tuyệt đối với 217.641 tỷ đồng, mức lãi suất bình quân đạt 5,67%/năm. Lãi suất liên ngân hàng ở các kỳ hạn dài hơn ghi nhận mức sụt giảm mạnh về doanh số nhưng lãi suất kỳ hạn ba tháng neo ở mức 7,95%/năm. Đặc biệt, các kỳ hạn từ sáu tháng đến chín tháng đã chạm và vượt mốc 9%. Cụ thể, kỳ hạn sáu tháng đạt 9%/năm và kỳ hạn chín tháng chạm mức 9,26%/năm với khối lượng giao dịch lần lượt là 100 tỷ và 230 tỷ đồng.
Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt so với tháng 6
Nhìn chung, lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt nếu so với tháng 6, thời điểm lãi suất liên ngân hàng cho vay qua đêm bình quân có lúc vọt lên hơn 10%. Khảo sát của Công ty chứng khoán MBS cũng cho thấy, lãi suất liên ngân hàng duy trì đà giảm khá ổn định trong tháng khi lãi suất qua đêm từ mức 10,1% ở đầu tháng đã giảm mạnh về 2,85% vào ngày 26/6, đánh dấu mức thấp nhất trong bốn tháng trở lại đây. Đến cuối tháng 6, lãi suất qua đêm quay đầu tăng trở lại lên mức 7,25% do yếu tố mùa vụ khi áp lực thanh khoản thường tăng vào thời điểm tháng cuối quý, vốn là lúc các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng các khoản thanh toán nhằm phục vụ cho việc chuẩn bị báo cáo tài chính.
Lãi suất huy động chững lại, vẫn neo cao
Bên cạnh đó, đà tăng của lãi suất huy động đã có dấu hiệu chững lại, chủ yếu chỉ xuất hiện ở nhóm các ngân hàng thương mại quy mô vừa. Trong số 16 ngân hàng được theo dõi, chỉ ghi nhận 6 ngân hàng tăng lãi suất so 9 ngân hàng của tháng trước. Ở chiều ngược lại, có 4 ngân hàng tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất từ 0,1 đến 0,2 điểm phần trăm ở các kỳ hạn tương ứng. Trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng nhóm 1 đến cuối tháng 6 tăng ba điểm cơ bản so với cuối tháng 5, lên mức 8,3%, tương đương mức tăng 254 điểm cơ bản so với đầu năm. Trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng Tier 2 tăng 10 điểm cơ bản so với cuối tháng 5, lên mức 8,52%, tăng 265 điểm cơ bản so với đầu năm, từ đó kéo trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại đến cuối kỳ lên mức 8,4%, cao hơn 259 điểm cơ bản so với đầu năm.
Dù nhiều ngân hàng đã thực hiện giảm lãi suất kể từ đầu quý II, song hiện tại lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do mặt bằng lãi suất đã tăng tương đối nhiều trong quý I, đồng thời đà tăng lãi suất huy động vẫn diễn ra ở một số ngân hàng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì tốc độ nhanh gấp gần 1,5 lần so với tốc độ huy động vốn.
Lo ngại chi phí vốn và chính sách tiền tệ
Với việc lãi suất chưa thể sớm hạ nhiệt, tiền trên thị trường sẽ không còn rẻ vì tình trạng khan hiếm thanh khoản trên toàn cầu đang ngày càng trầm trọng do sự mạnh lên của đồng USD và chi phí năng lượng leo thang. Đánh giá về việc khó có tiền rẻ trong giai đoạn này, TS Quách Mạnh Hào, giảng viên Đại học Lincoln (Anh) nhận định, lạm phát trong nước phức tạp hơn nhiều vì không chỉ phụ thuộc vào biến động giá dầu thế giới, mà còn bị chi phối lớn bởi độ trễ của chính sách nới lỏng tiền tệ từ các năm trước. Do đó, thị trường cần thấy một sự xoay trục rõ ràng của lạm phát, bởi vì nếu lạm phát vẫn duy trì xu hướng tăng thì cơ hội để Ngân hàng Nhà nước đảo chiều chính sách tiền tệ sang hướng nới lỏng là rất thấp.
Về trạng thái chính sách hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đang có khoảng trống để không thắt chặt thêm chứ chưa phải là nới lỏng. Bản chất là hệ thống đang ở trong trạng thái thắt chặt để phòng thủ nửa đầu năm và nhiệm vụ lúc này là đưa chính sách trở lại trạng thái bình thường bằng cách tháo gỡ các nút thắt kỹ thuật hay gỡ các rào cản tự thân, thay vì bơm tiền diện rộng hay hạ lãi suất điều hành ngay lập tức.
Các giải pháp hỗ trợ thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước đang hiện thực hóa việc hỗ trợ thanh khoản và tín dụng có mục tiêu thông qua các giải pháp mang tính nghiệp vụ và ngoại bảng, trước hết là nới lỏng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn khi việc đảo chiều nâng tỷ lệ này từ 30% lên 40% sau một thời gian dài siết chặt trước đó đã trực tiếp mở đường giải phóng dòng vốn tín dụng về mặt kỹ thuật. Đồng thời, cơ chế dòng vốn ngoại bảng cũng được áp dụng khi một số dự án được lựa chọn cho vay đặc quyền không bị tính vào room tín dụng tổng thể của ngân hàng thương mại. Về mặt hạch toán, bản chất của giải pháp này tương tự như một bút toán ngoại bảng giúp giữ các chỉ số an toàn của hệ thống ngân hàng ở mức đẹp, vẫn bảo đảm dòng vốn mồi được bơm trúng mục tiêu vào nền kinh tế.
Ngoài ra, cơ quan quản lý còn tối ưu hóa nguồn vốn kho bạc bằng cách cho phép tính tỷ lệ 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại vào nguồn vốn huy động thay vì không được tính như trước đây. Kèm theo đó là đề nghị Kho bạc tăng lượng tiền gửi để hỗ trợ một lượng lớn thanh khoản cho các ngân hàng.
Nhận định về thị trường nửa cuối năm
“Nhìn chung, tổng thể năm 2026 vẫn là một năm nhiều thách thức do độ trễ của chính sách thắt chặt, nhưng cục diện thị trường nên được chia thành hai nửa đối lập rõ rệt. Nửa đầu năm là giai đoạn Ngân hàng Nhà nước chọn giải pháp tổng thể để bảo đảm an toàn vĩ mô sau giai đoạn bơm tiền mạnh mẽ của năm trước, khiến hệ quả phản ánh trực tiếp lên thị trường chứng khoán bằng một giai đoạn âm thầm giảm và giao dịch ảm đạm do thiếu vắng dòng tiền rẻ. Nửa cuối năm sẽ là thời điểm các số liệu vĩ mô ủng hộ và áp lực bên ngoài giảm bớt, giúp Ngân hàng Nhà nước bắt đầu gỡ dần các nút thắt để phục vụ mục tiêu tăng trưởng”, ông Hào nhận định.
Theo bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc phân tích Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC), có một thực tế phải ghi nhận là Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm đến nay đã thực hiện rất tốt vai trò điều tiết, giữ vững mục tiêu ổn định môi trường vĩ mô để làm bệ đỡ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điểm sáng lớn nhất chính là sự ổn định của mặt bằng tỷ giá. Bà Lam cho biết: "Nhà điều hành cũng cho thấy những bước đi linh hoạt trong việc tháo gỡ dòng vốn thông qua phân loại lại nhóm nợ đối với các doanh nghiệp bất động sản có các dự án phục vụ mục đích an sinh". Tỷ giá trên thị trường tự do đã được kéo về mức rất sát và tiệm cận với tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, để đổi lấy sự “bình yên” này, nền kinh tế phải chấp nhận duy trì một mặt bằng lãi suất tương đối cao so với các năm trước do nhà điều hành phải liên tục duy trì một khoảng cách chênh lệch lãi suất đủ an toàn giữa VND và USD.
Bên cạnh đó, những động thái điều chỉnh kỹ thuật và tái cấu trúc chỉ tiêu an toàn của Ngân hàng Nhà nước gần đây đang phát đi một tín hiệu khi nhà điều hành đang nỗ lực tối ưu hóa cấu trúc hệ thống, tạo không gian để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí sử dụng vốn hợp lý và thực chất hơn. “Liên quan đến câu chuyện vốn, dù Ngân hàng Nhà nước đã hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng từ mức 19% của năm 2025 xuống còn 15% trong năm 2026, nhưng nếu cộng thêm tổng nhu cầu vốn huy động của 18 đại dự án thuộc nhóm hạ tầng trọng điểm quốc gia do các tập đoàn tư nhân triển khai vốn đã được phê duyệt cơ chế đặc thù, thì mức tăng trưởng tín dụng thực tế của năm nay dự kiến sẽ đẩy lên khoảng 19%. Nói cách khác, lượng vốn thực tế được bơm ra nền kinh tế vẫn sẽ tương đương với mức đỉnh của năm ngoái, phản ánh một chính sách hỗ trợ tăng trưởng rất mạnh mẽ ẩn sau mục tiêu danh nghĩa 15%”, bà Lam cho biết.



