Lúa ĐBSCL vào vụ, giá giảm sâu dù xuất khẩu tăng lượng
Khoảng hai tuần nữa, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ chính thức bước vào thu hoạch vụ lúa lớn nhất trong năm, vụ đông xuân 2025-2026. Khác hẳn với không khí nhộn nhịp, tấp nập của những mùa vụ trước, thời điểm hiện tại tình hình khá trầm lắng, khiến nhiều nông dân không khỏi lo âu. Sau quá trình sáp nhập, An Giang đã trở thành địa phương có diện tích sản xuất lúa lớn nhất khu vực và cả nước. Tuy nhiên, một số bà con nông dân ở các xã như Cô Tô và Hòn Đất cho biết giá lúa hiện tại thấp hơn năm trước và đang có xu hướng giảm thêm.
Giá lúa giảm, nông dân lo lắng
Ông Nguyễn Thành An, một nông dân ở xã Cô Tô, chia sẻ: "Một số bà con xung quanh thu hoạch lúa đông xuân sớm, các giống lúa thơm hạt dài như ĐT8 và OM có giá chỉ dao động từ 5.900 đến 6.000 đồng/kg. So với cùng kỳ năm trước, giá đã giảm từ 500 đến 600 đồng/kg." Ông An còn cho biết thêm, năm nay thời tiết mưa nắng thất thường dẫn đến sâu bệnh nhiều và chi phí sản xuất tăng cao, khiến lợi nhuận của bà con giảm đáng kể.
"Đây mới chỉ là giá ở đầu vụ, ra giêng khi bà con cả vùng bước vào vụ thu hoạch rộ, khả năng giá sẽ tiếp tục giảm sâu hơn. Lúa của tôi khoảng 10 ngày nữa mới thu hoạch nhưng vẫn chưa thể chốt được giá. Hiện nay, các thương lái cũng không nhiệt tình trong việc thu mua, khiến bản thân tôi và nhiều bà con xung quanh vô cùng lo lắng", ông An bày tỏ.
Thị trường xuất khẩu biến động
Nhiều doanh nghiệp tại vùng ĐBSCL cho biết mùa vụ năm nay bị trễ hơn so với năm ngoái khoảng từ một tuần đến mười ngày, nhưng lại có xu hướng thu hoạch đồng loạt hơn. Nguyên nhân chính là do cuối năm ngoái, nước lũ lên cao và mưa kéo dài khiến bà con ở nhiều nơi phải xuống giống chậm trễ.
Về phía thị trường, khách hàng lớn nhất là Philippines đã giảm nhập khẩu trong các tháng 3 và 4. Trong khi đó, các khách hàng truyền thống khác như châu Phi và Trung Quốc cũng đang tiếp tục chờ đợi miền Tây vào vụ thu hoạch rộ để có được mức giá tốt hơn. Bên cạnh đó, những tác động gần đây từ xung đột quân sự ở Trung Đông càng khiến thị trường thêm phần trầm lắng. Các doanh nghiệp hiện chưa có đơn hàng mới, thương lái cũng chưa có hợp đồng cung ứng nên chưa dám triển khai thu mua lúa cho bà con nông dân.
Xuất khẩu tăng lượng nhưng giảm giá trị
Dù tình hình hiện tại còn nhiều khó khăn, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong hai tháng đầu năm 2026 lại cho thấy một tín hiệu khá lạc quan. Tổng lượng gạo xuất khẩu hai tháng qua đạt 1,3 triệu tấn với kim ngạch 600 triệu USD, tăng 5% về lượng nhưng lại giảm 11% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính là do giá xuất khẩu bình quân đã giảm đến 15,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Sự tăng trưởng về lượng chủ yếu nhờ vào thị trường chính là Philippines mở cửa nhập khẩu trở lại, chiếm 48% thị phần. Đứng thứ hai là Trung Quốc với trên 18% và Ghana với 9%. Đáng chú ý, trong tháng 1 năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc đã tăng tới 5,8 lần so với cùng kỳ năm trước.
Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), nhận định: "Bối cảnh thị trường lúa gạo thế giới năm nay hết sức khó khăn khi nguồn cung rất dồi dào. Nhưng chúng ta vẫn tăng được sản lượng xuất khẩu là điều khá tích cực, nó cho thấy sự linh hoạt và năng động của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là sự thành công một nửa và chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng giá gạo của chúng ta đã giảm khá mạnh".
Áp lực tứ phía đè nặng
Khi xuất khẩu của Việt Nam vừa có dấu hiệu khởi sắc thì Philippines lại tiếp tục điều chỉnh chính sách, giảm nhập khẩu trong các tháng 3 và 4. Tổng mức nhập khẩu trong hai tháng này dự kiến chỉ khoảng 300.000 tấn. Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phước Thành IV tại Vĩnh Long, cho biết: "Lượng gạo xuất khẩu tăng mạnh trong hai tháng đầu năm nay chủ yếu là phần tồn kho từ năm trước chuyển sang. Philippines giảm mua, trong khi thị trường quan trọng khác là châu Phi lại bị ảnh hưởng bởi vấn đề vận chuyển do xung đột ở Trung Đông."
Ông Thành cũng chỉ ra rằng đầu ra hạn chế khiến thị trường trở nên trầm lắng trước vụ thu hoạch mới. Mặt khác, lãi suất cho vay tăng theo lãi suất huy động, ngân hàng siết chặt room tín dụng và giải ngân chậm cũng là những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp ngành lúa gạo khi chuẩn bị bước vào đợt thu hoạch rộ. Bên cạnh đó, theo quy định tài chính mới, các hợp đồng mua bán phải thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản, nhưng nhiều nông dân chưa quen và vẫn thích cầm tiền mặt nên bước đầu cũng gặp không ít khó khăn.
"Xu hướng chung trong năm 2026 của ngành lúa gạo sẽ rất khó khăn và đầy thách thức khi nguồn cung của Việt Nam và các nước khác dồi dào, trong khi thị trường tiêu thụ lại hạn chế", ông Thành tóm lược.
Chi phí logistics tăng cao
Ông Nguyễn Vĩnh Trọng, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng tại Đồng Tháp, đã tóm gọn tình hình bằng bốn chữ "áp lực tứ bề". Ông Trọng phân tích: "Philippines cũng đang chuẩn bị vào vụ nên giảm lượng nhập khẩu, còn Trung Quốc và châu Phi thì mua cầm chừng, chờ giá tốt hơn khi chúng ta vào vụ. Trong khi đó, căng thẳng ở Trung Đông nổ ra đúng vào giai đoạn này nên tình hình càng thêm khó khăn."
Hiện nay, cước tàu đi thị trường châu Phi đã tăng thêm từ 300 đến 400 USD/container so với mức bình thường khoảng 1.600 USD/container. Ông Trọng cho biết đây là trường hợp bất khả kháng, nên dù doanh nghiệp bán theo điều kiện FOB hay CIF đều phải đối mặt với rủi ro khi phải đồng hành cùng đối tác, nếu không sẽ mất khách hàng. Chi phí này về lâu dài sẽ được cộng thêm vào giá thành, và trong điều kiện thị trường dư cung như hiện nay, khả năng tăng giá bán sẽ đối diện với nguy cơ mất khách hàng.
"Nếu căng thẳng kéo dài, khả năng cước tàu biển còn tiếp tục tăng. Áp lực từ vụ đông xuân đang ngày càng lớn, nên khả năng giá lúa sẽ tiếp tục giảm", ông Trọng lo lắng.
Giải pháp và triển vọng
Ông Đỗ Hà Nam thừa nhận doanh nghiệp gạo năm nay đang phải đối mặt với nhiều áp lực, đặc biệt là từ thị trường, chi phí logistics và lãi suất. Về bản chất, doanh nghiệp sẽ phải tìm mọi cách để tồn tại trước các thách thức, và điều này ít nhiều sẽ tác động đến bà con nông dân. Tuy nhiên, ông Nam cũng lạc quan cho rằng khó khăn nào cũng có lời giải.
Các doanh nghiệp có thể giảm thiểu tác động bằng cách khai thác tốt hơn các thị trường châu Á và Đông Nam Á. Với châu Phi, gạo là mặt hàng thiết yếu nên họ vẫn phải nhập khẩu dù giá có tăng. Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần chủ động thu mua tạm trữ để tránh giá rớt quá sâu và đảm bảo lợi ích cho bà con nông dân. Để làm được điều này, nhà nước cần có chính sách vốn và lãi suất đặc thù cho ngành lúa gạo. Ước tính tổng số tiền thực tế cần thiết cũng không quá lớn so với các chính sách đầu tư khác.
Bối cảnh toàn cầu
Trên phạm vi toàn cầu, nguồn cung lúa gạo đang rất dồi dào. Hiện nay, giá gạo xuất khẩu của các nước như Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ đã giảm trung bình từ 5 đến 10 USD/tấn so với cuối tháng 2. Gạo 5% tấm của Việt Nam chỉ còn khoảng 360 USD/tấn, trong khi gạo thơm chỉ ở mức 400 USD/tấn.
Về thị trường chung, cuối năm 2025, Mỹ đã gây áp lực để Nhật Bản phải nhập khẩu gạo của nước này. Đầu năm 2026, trong đàm phán thuế đối ứng với Indonesia, một trong những điều khoản mà chính phủ Donald Trump đưa ra là Indonesia phải nhập khẩu gạo của Mỹ. Dù trước đó, chính phủ Indonesia đã thông báo nước này sẽ tiếp tục không nhập khẩu gạo trong năm 2026. Mới đây, Indonesia thông báo dự trữ gạo đã đạt mức 3,7 triệu tấn và sẽ tiếp tục tăng lên từ 4 đến 5 triệu tấn vào cuối tháng 3.



