Chi phí ẩn trong sản xuất lúa: Lao động dư thừa và nghịch lý thiếu hụt
Trong nhiều năm, việc đánh giá hiệu quả sản xuất lúa thường tập trung vào các chi phí hữu hình như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động. Cách tiếp cận này khiến nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long được xem là có lợi thế nhờ chi phí thấp. Tuy nhiên, những con số đó chỉ phản ánh một phần của bức tranh toàn cảnh.
Lao động gia đình: Chi phí không được tính toán
Một yếu tố quan trọng, cách sử dụng nguồn lực lao động, lại không thể hiện trên bất kỳ bảng tính nào. Thực tế phổ biến hiện nay không phải là trả lời câu hỏi “một thửa ruộng cần bao nhiêu lao động”, mà là “gia đình có bao nhiêu người, thì huy động bấy nhiêu”. Khi lao động được phân bổ theo cấu trúc hộ gia đình, thay vì theo nhu cầu sản xuất, sự lãng phí gần như trở thành tất yếu.
Với mức độ cơ giới hóa và dịch vụ nông nghiệp hiện nay, hoàn toàn có thể tổ chức sản xuất lúa với lực lượng lao động tinh gọn hơn rất nhiều. Ở nhiều địa phương, bình quân mỗi héc-ta đất canh tác vẫn gắn với 3-4 lao động trong một hộ gia đình. Trong khi đó, nếu tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại, với cơ giới hóa đồng bộ và dịch vụ chuyên nghiệp, một lao động có thể đảm nhiệm hiệu quả diện tích tương đương.
Nghịch lý thiếu lao động trong mùa vụ
Khoảng chênh lệch này cho thấy, một bộ phận lao động hiện nay không phải là lao động cần thiết theo nghĩa kinh tế, mà là lao động được duy trì theo cấu trúc xã hội. Phần lao động dôi dư ấy, dù không xuất hiện trong bảng chi phí, lại chính là “chi phí ẩn” của toàn hệ thống sản xuất nông nghiệp.
Nghịch lý càng rõ hơn khi vào thời điểm cao điểm mùa vụ, nhiều nơi lại rơi vào tình trạng thiếu lao động: Thiếu người thu hoạch, thiếu người vận hành máy móc, khiến chi phí thuê tăng cao và sản xuất bị động. Trong khi đó, ngay trong từng hộ gia đình vẫn tồn tại lao động dư thừa, nhưng phân tán, không được tổ chức thành lực lượng đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu thực tế.
Hạn chế trong tích lũy kỹ năng và chi phí cơ hội
Không chỉ dừng lại ở số lượng, mô hình lao động theo hộ còn làm phân mảnh thời gian và hạn chế tích lũy kỹ năng. Lao động tham gia từng phần việc, phụ thuộc vào nhịp sinh hoạt gia đình hơn là quy trình sản xuất, dẫn đến tính rời rạc và khó chuyên môn hóa. Kinh nghiệm canh tác dù phong phú, nhưng khó chuyển hóa thành năng suất cao ở quy mô lớn.
Đáng chú ý hơn, việc sử dụng lao động gia đình còn che khuất chi phí thực của sản xuất. Khi không có dòng tiền trả lương rõ ràng, công lao động thường không được tính hoặc bị tính thấp, tạo cảm giác chi phí sản xuất lúa là thấp. Nhưng chi phí kinh tế không chỉ là tiền mặt, mà còn là chi phí cơ hội. Một lao động dành thời gian cho ruộng lúa đồng nghĩa với việc từ bỏ cơ hội làm việc có năng suất cao hơn.
So sánh với thế giới và giải pháp cần thiết
Nhìn ra thế giới, ở các nước phát triển, lao động nông nghiệp chỉ chiếm 2-5% tổng lao động xã hội, nhưng vẫn bảo đảm sản lượng lớn. Ở nhiều quốc gia đang phát triển, tỷ lệ này cũng đã giảm xuống dưới 15%. Trong khi đó, Việt Nam vẫn duy trì tỷ lệ lao động nông nghiệp ở mức cao, cho thấy một phần nguồn lực đang bị “neo” ở khu vực năng suất thấp.
Vấn đề đặt ra vì thế không phải là “giảm lao động” một cách cơ học, mà là tổ chức lại lao động theo hướng hiệu quả hơn. Muốn vậy, cần thay đổi tư duy sản xuất, chuyển từ mô hình hộ nhỏ lẻ sang các hình thức hợp tác, liên kết, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Cùng với đó là thúc đẩy mạnh mẽ cơ giới hóa và phát triển dịch vụ nông nghiệp chuyên nghiệp.
Một giải pháp quan trọng khác là phải minh bạch hóa chi phí sản xuất, trong đó có chi phí lao động. Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy tích tụ ruộng đất và hình thành các mô hình sản xuất quy mô lớn. Nhìn vào thực tế, nông nghiệp hiện nay không chỉ làm nhiệm vụ sản xuất, mà còn đang gánh vai trò an sinh xã hội.
Nhưng nếu tiếp tục duy trì cấu trúc này, vô hình trung chúng ta đang giữ người nông dân ở lại trong một mô hình thu nhập thấp. Đã đến lúc cần chuyển từ tư duy giữ việc sang tạo giá trị, từ huy động lao động sang tối ưu hóa nguồn lực. Chỉ khi đó, những “giọt mồ hôi” của người nông dân mới thật sự được chuyển hóa thành năng suất và giá trị.
LÊ HÀ LUÂN, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp



