Giá sầu riêng tại Đồng Tháp đang ở mức thấp chưa từng có, khiến nhiều nhà vườn lao đao. Gia đình bà Trần Thị Xuân Đào, xã Hiệp Đức, trồng 0,3 ha sầu riêng giống Ri 6 gần đến ngày thu hoạch, ước sản lượng hơn 2 tấn. Tuy nhiên, giá sầu riêng quá thấp và thương lái hạn chế thu mua, buộc gia đình bà phải xử lý thuốc để kéo dài thời gian thu hoạch, chờ giá tăng.
Bà Đào chia sẻ: “Từ khi cây cho trái đến ngày thu hoạch, chi phí đầu tư từ 30 đến 40 nghìn đồng/kg. Hiện thương lái vào vườn mua với giá 25 đến 30 nghìn đồng/kg, nông dân thua lỗ nặng. Chưa năm nào giá lại giảm như năm nay”.
Hợp tác xã và thương lái gặp khó
Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Lợi A, xã Mỹ Lợi có diện tích sản xuất hơn 271 ha, với khoảng 90% là canh tác sầu riêng. Ông Lê Hồng Hải, Phó Giám đốc hợp tác xã, cho biết thời điểm này những năm trước, sầu riêng Ri 6 luôn giữ mức 50 nghìn đồng/kg trở lên, nông dân có lãi. Nhưng năm nay giá quá thấp, nhà vườn gặp khó khăn.
Ông Huỳnh Thanh Nhã, thương lái thu mua sầu riêng tại xã Hội Cư, cho biết sầu riêng Ri 6 tại vườn có giá khoảng 25 nghìn đồng/kg, tại vựa khoảng 40 nghìn đồng/kg. Nguyên nhân giá giảm sâu là do các phòng kiểm nghiệm Cadimi và Vàng O tạm ngừng nhận mẫu, dẫn đến các kho không thu mua. Đối với các hợp đồng đã nhận tiền cọc, nếu nhà vườn không giảm giá, thương lái không thu hoạch. Thời điểm này, cả nhà vườn và thương lái đều điêu đứng, nhưng thiệt nhất vẫn là nhà vườn.
Nguyên nhân giá giảm sâu
Hiện nay, sầu riêng chuẩn bị vào đợt thu hoạch rộ vụ thuận, trong khi chi phí đầu vào tăng cao nhưng giá bán thấp khiến nhà vườn lo lắng. Ông Võ Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh, cho biết: “Thời gian gần đây, phòng kiểm nghiệm Cadimi và Vàng O liên tục đóng cửa khiến sầu riêng giảm giá sâu. Khâu này ngưng hoạt động thì hệ thống mua bán sầu riêng gần như tê liệt. Nếu họ mở cửa, doanh nghiệp sẽ thu mua và giá sẽ tăng”.
Tỉnh Đồng Tháp hiện có khoảng 134.900 ha cây ăn trái, sản lượng 2,5 triệu tấn. Trong đó, sầu riêng có diện tích hơn 32.000 ha, sản lượng gần 557.000 tấn. Địa phương có hơn 1.100 mã số vùng trồng, trong đó sầu riêng được cấp 350 mã số, với khoảng 13.680 ha; 496 mã số nhà đóng gói trái cây, trong đó 111 nhà đóng gói sầu riêng nhưng có 80 nhà bị tạm dừng hoạt động.
Ông Trần Thanh Tâm, Chi cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, cho biết: “Việc tiêu thụ khó khăn là do thiếu cơ sở kiểm nghiệm. Nhiều đơn vị dừng nhận mẫu do quá tải, bảo trì, dẫn đến ùn tắc kiểm nghiệm từ ngày 10 đến 25/3. Đến giữa tháng 4/2026, cả nước có 13 cơ sở kiểm nghiệm Cadimi và 17 cơ sở kiểm nghiệm Vàng O được phía Trung Quốc phê duyệt. Khi tiến hành thu mua, doanh nghiệp phải đặt lịch cho các phòng kiểm nghiệm từ 7 đến 10 ngày. Khi phòng test nhận lịch, các vựa mới tiến hành thu mua. Ngoài ra, các phòng kiểm nghiệm yêu cầu cơ sở đóng gói cung cấp hồ sơ phức tạp, nhiều ràng buộc. Nhiều cơ sở không kịp bổ sung giấy tờ (nhất là giấy an toàn thực phẩm, mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc...) đã gây khó khăn, chậm trễ xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc. Công tác quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói còn hạn chế, cạnh tranh từ sầu riêng Thái Lan cũng ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ. Nhưng năng lực kiểm nghiệm hiện là điểm nghẽn lớn nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xuất khẩu sang Trung Quốc”.
Giải pháp tháo gỡ
Để tháo gỡ khó khăn, tỉnh Đồng Tháp đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường đàm phán với phía Trung Quốc đẩy nhanh phê duyệt thêm phòng kiểm nghiệm, xem xét và chấp thuận kết quả kiểm nghiệm của Việt Nam nhằm giảm áp lực quá tải; điều chỉnh cơ chế hậu kiểm linh hoạt hơn, tránh đình chỉ do sai lệch đơn lẻ. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đề nghị lãnh đạo địa phương đầu tư nâng cấp năng lực kiểm nghiệm Cadimi và Vàng O cho Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và dịch vụ khoa học công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp) nhằm sớm chủ động năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu trái cây.
Định hướng đến năm 2030, diện tích sầu riêng tỉnh Đồng Tháp đạt khoảng 38.500 ha. Để phát triển bền vững, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh khuyến cáo nông dân kiểm soát phân bón, nước tưới nhằm giảm nguồn Cadimi đầu vào; bón vôi, hữu cơ, VSV, Biochar, bổ sung Zn, Si nhằm nâng độ pH, hạn chế cây hấp thụ Cadimi. Giải pháp trọng tâm là kiểm nghiệm đất và trái, phân loại vườn để tránh lô hàng bị trả về; truy xuất nguồn gốc, quản lý vùng trồng để bảo đảm sản phẩm xuất khẩu an toàn. Về lâu dài, địa phương sẽ quy hoạch vùng trồng sạch Cadimi, tập trung áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP để nâng chuẩn sản xuất. Giải pháp then chốt là kiểm soát phân bón nhằm giảm tích lũy Cadimi lâu dài, ứng dụng vi sinh, biochar, công nghệ xử lý đất để cố định Cadimi trong đất; quản lý theo chuỗi giá trị để phát triển bền vững, xuất khẩu ổn định.



