Lần đầu tiên, Việt Nam được Trung tâm năng lực cạnh tranh thế giới thuộc Viện Phát triển quản lý quốc tế Thụy Sĩ (IMD) đưa vào bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu, đạt vị trí 27/70 nền kinh tế lớn. Bảng xếp hạng dựa trên bốn lĩnh vực chính: hiệu quả kinh tế, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả kinh doanh và cơ sở hạ tầng, sử dụng 172 chỉ số thống kê và 92 chỉ số từ khảo sát ý kiến lãnh đạo, tổng cộng 264 chỉ số.
Những chỉ số nổi bật trong top đầu thế giới
Việt Nam ghi nhận nhiều chỉ số xếp hạng cao: hiệu quả kinh tế hạng 19, hiệu quả kinh doanh hạng 19, kinh tế trong nước hạng 16, thương mại quốc tế hạng 6, việc làm hạng 11. Kết quả này phản ánh sự cải thiện vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế.
Trước đó, Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) xếp Việt Nam hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế, duy trì thứ hạng năm 2024. Trong đó, chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo tăng 3 bậc so với năm 2023, từ 53 lên 50, gồm các trụ cột: Thể chế, Nguồn nhân lực và nghiên cứu, Cơ sở hạ tầng, Trình độ phát triển của thị trường và doanh nghiệp.
Động lực từ ổn định vĩ mô và hội nhập sâu rộng
Theo TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị khu vực II, thứ hạng 27/70 có nền tảng vững chắc. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam duy trì ổn định chính trị - xã hội vĩ mô, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. 17 hiệp định thương mại thế hệ mới giúp Việt Nam thâm nhập thị trường quốc tế hiệu quả, độ mở kinh tế đạt gần 200%. Năm 2025, GDP cả nước đạt 514 tỉ USD, trong khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 930 tỉ USD, cho thấy nền kinh tế hội nhập sâu rộng.
Về hiệu quả quản lý nhà nước, Việt Nam chuyển từ quản lý hành chính "xin - cho" sang tư duy quản trị quốc gia kiến tạo phát triển, thể hiện qua Hiến pháp 2025 sửa đổi, Luật Đất đai 2024 và các cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng hộ kinh doanh, có khả năng ứng phó linh hoạt với các cú sốc cung - cầu quốc tế, như xung đột Nga - Ukraine hay biến động giá dầu tại Trung Đông.
Lợi thế thu hút FDI và thách thức về năng suất
Chỉ số thương mại quốc tế hạng 6 là lợi thế lớn để Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, IMD xếp Việt Nam hạng 53 về đầu tư quốc tế, cho thấy khả năng hấp thụ vốn FDI còn hạn chế. TS Nguyễn Văn Điển cho rằng Việt Nam cần tạo điều kiện cho dòng vốn FDI thế hệ mới, sẵn sàng chia sẻ và chuyển giao công nghệ, đồng thời xây dựng các trung tâm nghiên cứu phát triển.
Ông Đinh Tuấn Minh, Trung tâm nghiên cứu giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế - xã hội (MASSEI), nhận định nhiều chỉ số cho thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam gia tăng. Báo cáo Tự do kinh tế thế giới (EFW) 2023 của Viện Fraser (Canada) xếp Việt Nam hạng 106/165, tăng 4 bậc so với 2022 và tăng 23 bậc so với 2017. Xu hướng này phản ánh nỗ lực cải cách thể chế kinh tế thị trường, ưu tiên ổn định vĩ mô và hội nhập quốc tế.
Khuyến khích đổi mới sáng tạo để vượt thách thức
Chỉ số hiệu quả kinh doanh của Việt Nam đạt 70,6 điểm, hạng 19, nhưng IMD cảnh báo năng suất, khả năng ứng dụng công nghệ và năng lực đổi mới chưa đạt tiềm năng. TS Nguyễn Văn Điển lý giải do cơ cấu doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ, siêu nhỏ, thiếu nguồn lực tài chính cho nghiên cứu phát triển. Tuy nhiên, các chính sách như Quỹ tín dụng hỗ trợ đổi mới công nghệ đang được triển khai để cải thiện tình hình.
Ông Đinh Tuấn Minh nhấn mạnh cần kiên trì thực hiện các chính sách khuyến khích khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, thẩm thấu ở mọi cấp, từ trường đại học đến viện nghiên cứu. Cần có ranh giới rõ ràng giữa sáng tạo và rủi ro pháp lý để các nhà nghiên cứu mạnh dạn đầu tư.
TS Nguyễn Văn Điển kỳ vọng Việt Nam sẽ tăng trưởng bền vững và cải thiện năng lực cạnh tranh, vào top 20 trong năm tới, nhờ sự chuyển dịch tích cực về thể chế, hạ tầng và niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài.



