Với gần 3.300 km bờ biển và vùng biển rộng hơn 1 triệu km², nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế trọng yếu, Việt Nam sở hữu lợi thế nổi trội để phát triển kinh tế biển và dịch vụ logistics. Kinh tế biển được xác định là định hướng chiến lược quốc gia, phát triển đồng bộ các ngành như vận tải biển, cảng biển, công nghiệp tàu thủy, tạo nền tảng cho hệ sinh thái công nghiệp hàng hải dài hạn.
Ngành công nghiệp nền tảng
Trong bối cảnh kinh tế biển trở thành không gian phát triển mới, công nghiệp tàu thủy đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực quốc gia trên biển. Ngành đóng tàu phát triển giúp giữ vững chủ quyền biển đảo thông qua khả năng tự thiết kế, chế tạo, sửa chữa phương tiện biển, đồng thời nâng cao năng lực ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn và an ninh hàng hải. Đây cũng là cơ sở phát triển đội tàu vận tải quốc gia, tàu dịch vụ dầu khí, tàu công trình biển và tàu phục vụ điện gió ngoài khơi.
Tiến sĩ Phạm Hoài Chung, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC), phân tích: Tại Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (năm 2026) tiếp tục khẳng định vai trò của đóng tàu là “ngành công nghiệp nền tảng quốc gia”, không chỉ về kinh tế mà còn về công nghiệp hóa, tự chủ công nghệ, logistics và an ninh quốc gia. Ngành đóng tàu còn là mắt xích quan trọng trong chuỗi phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi năng lượng toàn cầu. Xu hướng tàu sử dụng nhiên liệu sạch, tàu thông minh, tàu phục vụ điện gió ngoài khơi và công trình nổi trên biển mở ra dư địa phát triển lớn cho ngành đóng tàu Việt Nam nếu có chiến lược đầu tư bài bản và dài hạn.
Từ thực tiễn, phát triển công nghiệp tàu thủy là yêu cầu chiến lược xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với kinh tế biển hiện đại, góp phần hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia mạnh về biển.
Củng cố vị thế trên bản đồ hàng hải quốc tế
“Vận tải biển đảm nhận 80-90% lưu lượng thương mại toàn cầu; riêng Việt Nam, khoảng 80% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Nếu không có đội tàu đủ mạnh và năng lực đóng mới, sửa chữa tàu, chuỗi logistics quốc gia sẽ phụ thuộc lớn vào nước ngoài, kéo theo chi phí logistics cao, khả năng ứng phó rủi ro thấp và suy giảm tính tự chủ của nền kinh tế”, Tiến sĩ Phạm Hoài Chung nhấn mạnh.
Thị trường đóng tàu thế giới có quy mô 150-180 tỷ USD/năm, tập trung chủ yếu ở Trung Quốc (50%), Hàn Quốc (gần 30%) và Nhật Bản (gần 20%). Dự báo giai đoạn 2024-2028, quy mô thị trường tăng hơn 22 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng bình quân gần 4%/năm và đạt khoảng 195 tỷ USD vào năm 2030. Việt Nam dù có ngành đóng tàu phát triển nhưng chưa duy trì ổn định vị thế trên bản đồ thế giới.
Động lực mới của tăng trưởng
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, phát triển ngành đóng tàu có thể trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy công nghiệp, xuất khẩu, việc làm và năng lực công nghệ. Theo chuyên gia, ngành đóng tàu có hệ số lan tỏa kinh tế rất cao. Một con tàu mới là sự kết tinh của hàng chục ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ kỹ thuật. Công nghiệp đóng tàu tạo ra việc làm lớn với chất lượng lao động cao. Về xuất khẩu, đóng tàu mang lại giá trị gia tăng lớn, mỗi tàu có giá trị từ vài chục đến vài trăm triệu USD. Nếu nâng cao năng lực đóng tàu, nguồn thu ngoại tệ tăng mạnh, cải thiện cán cân thương mại và thúc đẩy GDP.
Giáo sư, Tiến sĩ, Thượng tướng Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương, phân tích: Trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển khoa học-công nghệ và chuyển đổi số, kinh tế biển chuyển sang tư duy phát triển theo chuỗi giá trị, logistics, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao. Điều này đòi hỏi hình thành năng lực công nghiệp tương ứng để phục vụ kinh tế biển chủ động và bền vững.
“Phát triển kinh tế biển cần đặt trong tổng thể chiến lược quốc gia, gắn với xây dựng các ngành công nghiệp nền tảng và nâng cao năng lực nội sinh của doanh nghiệp, góp phần củng cố năng lực tự chủ, sức chống chịu và vị thế cạnh tranh. Xu hướng nổi bật là ứng dụng AI, IoT, dữ liệu lớn, tự động hóa và hệ thống giám sát hỗ trợ kinh tế biển xanh. Phát triển kinh tế biển giai đoạn mới không chỉ gắn với hạ tầng và công nghiệp truyền thống, mà còn với hệ sinh thái công nghệ biển hiện đại, hạ tầng dữ liệu biển số và mô hình quản trị biển thông minh”, ông Nguyễn Văn Thành nêu rõ.
Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến phát triển kinh tế biển và công nghiệp hàng hải, quyết tâm đưa Việt Nam thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển. Kinh tế biển được coi là không gian chiến lược mở rộng dư địa tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm chủ quyền. Nếu tận dụng tốt, ngành đóng tàu có thể tạo ra “đòn bẩy kép” cho nền kinh tế.
Các chuyên gia kiến nghị cơ quan quản lý nghiên cứu, trình Chính phủ sớm xây dựng Chiến lược phát triển đội tàu quốc gia gắn với đơn hàng đóng tàu trong nước và Chiến lược phát triển công nghiệp đóng tàu Việt Nam làm nền tảng triển khai dài hạn. Đồng thời, nhanh chóng quy hoạch cụm công nghiệp đóng tàu-logistics-cảng biển tại các khu vực tiềm năng để giảm chi phí logistics bền vững. Bên cạnh đó, cần có cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội về tài chính, tín dụng, thuế, đất đai cho ngành công nghiệp tàu thủy.



