Sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng trưởng mạnh mẽ, đạt mức cao nhất từ năm 2020
Theo số liệu từ Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2026 của Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính, công bố ngày 4/4, sản xuất công nghiệp trong quý đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất của quý I kể từ năm 2020 đến nay. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng ấn tượng 9,7%.
Chi tiết tăng trưởng theo tháng và ngành
Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2026 ước tăng 18,8% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành, nhiều lĩnh vực đạt mức tăng trưởng đáng kể:
- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,1%.
- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,5%.
- Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%.
- Ngành khai khoáng tăng 2,6%.
Tổng kết quý I, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Các ngành khác như cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 7,8%, sản xuất và phân phối điện tăng 6,3%, và khai khoáng tăng 4,7%, lần lượt đóng góp 0,1, 0,6 và 0,7 điểm phần trăm.
Tăng trưởng nổi bật của các ngành công nghiệp trọng điểm
Xét riêng từng ngành, chỉ số sản xuất quý I/2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước:
- Sản xuất kim loại tăng 22,9%.
- Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 19,7%.
- Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,2%.
- Sản xuất xe có động cơ tăng 14,7%.
- Sản xuất đồ uống tăng 14,5%.
Ngược lại, một số ngành tăng thấp hoặc giảm, như sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 3,1%, khai thác than cứng và than non giảm 4,8%, và sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,9%.
Phân tích theo địa phương và sản phẩm chủ lực
Đáng chú ý, chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP tăng cao nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất điện, như Ninh Bình tăng 29,1%, Phú Thọ tăng 26,3%, và Bắc Ninh tăng 19,4%. Trong khi đó, các địa phương như Lạng Sơn giảm 11,3%, Vĩnh Long giảm 4,9%, và Quảng Trị giảm 1,3% do tăng trưởng thấp ở các ngành chính.
Về sản phẩm công nghiệp chủ lực, nhiều mặt hàng tăng mạnh: xe máy tăng 31,6%, thủy hải sản chế biến tăng 23,4%, và thép thanh, thép góc tăng 21,1%. Tuy nhiên, một số sản phẩm giảm như phân Ure giảm 9,6%, điện thoại di động giảm 6,6%, và than sạch giảm 4,9%.
Chỉ số tiêu thụ, tồn kho và lao động
Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chỉ số tiêu thụ toàn ngành tháng 3/2026 tăng 14,7% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, chỉ số tiêu thụ tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025. Chỉ số tồn kho toàn ngành ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 12,9% so với năm trước, với tỷ lệ tồn kho bình quân quý I là 84,8%.
Báo cáo cũng chỉ ra số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/3/2026 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 2,4% so với năm trước. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ghi nhận mức tăng cao nhất, với lao động tăng 1,2% so với tháng trước và 3,4% so với năm trước.



