Lo ngại 'hạ chuẩn' đào tạo tiến sĩ khi Bộ GD&ĐT đề xuất miễn phản biện
Lo ngại 'hạ chuẩn' đào tạo tiến sĩ với đề xuất miễn phản biện

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa công bố dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học để lấy ý kiến rộng rãi. Một trong những điểm đáng chú ý là chuyển từ quản lý quy trình sang quản lý chất lượng, chuẩn đầu ra và trách nhiệm giải trình của cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, quy định về số lượng bài báo khoa học của nghiên cứu sinh đang gây tranh cãi.

Chuyển đổi mô hình quản lý

Lần đầu tiên, dự thảo đưa ra cơ chế miễn phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao, với yêu cầu có ít nhất 3 bài báo WoS/Scopus liên quan trực tiếp đến luận án, trong đó có ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1. Tiến sĩ P.K.T. cho rằng đây là bước điều chỉnh cần thiết khi giáo dục đại học Việt Nam chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng. Dự thảo thể hiện tinh thần tăng quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, nhưng không buông lỏng quản lý. Bộ GD&ĐT chuyển từ quản lý chi tiết quy trình sang quản lý bằng chuẩn tối thiểu, chất lượng, công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Dự thảo cũng làm rõ hơn yêu cầu công bố khoa học, phản biện độc lập luận án tiến sĩ, đồng thời đề xuất cơ chế miễn phản biện độc lập cho nghiên cứu sinh có kết quả xuất sắc. Quy định này nếu được thiết kế chặt chẽ sẽ tạo động lực để nghiên cứu sinh công bố quốc tế thực chất, thay vì chỉ hoàn thành luận án hình thức. Tuy nhiên, tiến sĩ P.K.T. cho rằng cần thận trọng: việc đặt chuẩn công bố quốc tế là đúng, nhưng phải tránh áp dụng cơ học giữa các lĩnh vực. Nếu không phân tầng theo ngành, có thể tạo áp lực chạy theo số lượng, thậm chí phát sinh nguy cơ công bố ở tạp chí kém chất lượng. Do đó, cần quy định rõ tiêu chí tạp chí, vai trò đóng góp của nghiên cứu sinh, tính liên quan trực tiếp của bài báo với luận án và cơ chế kiểm soát liêm chính học thuật.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Trong bối cảnh Nghị quyết 71 của Trung ương về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, dự thảo đi đúng tinh thần phát triển giáo dục đại học chất lượng cao, đào tạo nhân lực trình độ cao, tăng tự chủ, gắn đào tạo với khoa học công nghệ và hội nhập. Dự thảo cũng tương thích với Nghị quyết 57 khi coi nhân lực trình độ cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển quốc gia.

Cảnh báo nguy cơ hợp thức hóa luận án thiếu chiều sâu

GS.TS Phùng Hồ Hải, Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam), cho rằng phản biện độc lập là khâu khách quan nhất trong quá trình đào tạo tiến sĩ. Ông nói: “Việc bỏ yêu cầu phản biện độc lập cho dù với những luận án được coi là xuất sắc theo một tiêu chí nào đó là một bước lùi trong công tác đánh giá khoa học”. Ông Hải cho rằng khi cho phép mở ngành đào tạo, Bộ GD&ĐT đã tự công nhận đội ngũ khoa học của nhà trường đủ năng lực hướng dẫn và đánh giá kết quả nghiên cứu sinh. Vậy tại sao lại ra thông tư cho phép dựa hoàn toàn vào đánh giá của tạp chí nước ngoài? GS. Phùng Hồ Hải khẳng định không thể bỏ qua phản biện độc lập đối với bất kỳ nghiên cứu sinh nào. Các khó khăn do tổ chức phản biện độc lập, nếu có, là do thực hiện không đúng quy định, như chọn phản biện chưa phù hợp chuyên môn, có yếu tố mâu thuẫn lợi ích, hoặc phản biện trễ thời hạn mà không thay thế.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Một chuyên gia khác đặt vấn đề: luận án tiến sĩ không phải là tập hồ sơ lưu trữ các bài báo rời rạc. Vị này đặt ra loạt vấn đề trước con số 3 bài báo trong điều kiện miễn phản biện. Nếu 3 bài báo không có sự liên kết, đồng nhất về chủ đề mà chỉ là những mảnh ghép chắp vá từ các đề tài khác nhau để gom đủ số lượng, thì tập hợp đó chỉ tạo ra “luận án rác”. Miễn phản biện trong trường hợp này sẽ vô tình hợp thức hóa những công trình kém chất lượng, thiếu chiều sâu hệ thống. Trong giới học thuật, giá trị của các hình thức công bố có sự phân hóa rất lớn. Dự thảo hiện chưa làm rõ: 3 bài báo đó có độ dài thế nào? Là bài báo tạp chí hay kỷ yếu hội nghị, là bài tổng quan, bài bình luận hay thuộc chuỗi bài giảng? Về dung lượng, một bài báo khoảng 30 trang có thể tương đương, thậm chí vượt trội hơn 3-4 bài báo ngắn. Nếu bộ đánh đồng mọi loại hình công bố, hệ lụy sẽ rất lớn.

Theo chuyên gia này, một thách thức lớn khác là tình trạng “cắt lát”: một nghiên cứu lớn bị băm nhỏ, thay đổi dữ liệu, tinh chỉnh biến số hoặc thay đổi mô hình/đối tượng áp dụng để đăng thành nhiều bài ở các tạp chí khác nhau. Nếu không có bộ lọc phản biện kín để đánh giá tính nguyên bản, làm sao ngăn chặn được trục lợi học thuật? Mặt khác, phải có tiêu chí xác định nghiên cứu sinh đóng góp thế nào trong bài báo. Kinh nghiệm quốc tế luôn bắt buộc nghiên cứu sinh chứng minh phần đóng góp độc lập đủ tầm cấu thành luận án, bất kể có bao nhiêu bài báo đứng tên chung. Tiêu chí cuối cùng là tính chuẩn mực của lĩnh vực công bố. Nếu dùng 3 bài báo “lệch pha” chuyên ngành để được miễn phản biện và cấp bằng tiến sĩ, đó rõ ràng là sự nhập nhèm về chuẩn mực chất lượng chuyên ngành.