Bùng nổ chương trình liên kết đào tạo quốc tế: Cơ hội và thách thức
Theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến tháng 6/2024, cả nước có 62 cơ sở giáo dục đại học triển khai 369 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài. Trong đó, có 285 chương trình trình độ đại học, 74 chương trình thạc sĩ và 10 chương trình tiến sĩ. Vương quốc Anh dẫn đầu với 120 chương trình, tiếp theo là Úc (40), Mỹ (34), Đức (28), Pháp (26), Hàn Quốc (21) và Đài Loan (Trung Quốc) với 14 chương trình. Còn lại 86 chương trình thuộc các quốc gia khác như Áo, Ba Lan, Bỉ, Trung Quốc, Canada, Séc, Đan Mạch, Hà Lan, Italia, Malaysia, Nhật Bản, New Zealand, Thụy Sĩ.
Chất lượng thực tế chưa theo kịp quảng bá
Nhóm ngành kinh doanh, tài chính, kế toán, quản trị, quản lý chiếm khoảng 50% tổng số chương trình; phần còn lại thuộc nhóm khoa học và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, cùng một số lĩnh vực như Y khoa, Dược, Luật. Sự nở rộ này khẳng định xu hướng quốc tế hóa giáo dục, nhưng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng nhiều chương trình mới chỉ dừng ở mức nhập khẩu giáo trình, trong khi các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa theo kịp.
Theo Nghị định 86/2018/NĐ-CP (nay được thay thế bằng Nghị định 86/2022/NĐ-CP), chương trình liên kết đào tạo phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và kiểm định chất lượng; phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; giảng viên đạt chuẩn chuyên môn; điều kiện triển khai tương đương yêu cầu của chương trình gốc. Trên giấy tờ, khung pháp lý tương đối đầy đủ, nhưng thực tế lại có nhiều bất cập.
Không ít chương trình quảng bá sử dụng giáo trình và giảng viên của trường đối tác nước ngoài, song phần lớn môn học do giảng viên trong nước đảm nhiệm mà chưa có cơ chế đánh giá độc lập về mức độ tương thích học thuật. Ở những lĩnh vực đòi hỏi thực hành cao như kỹ thuật, công nghệ, quản trị kinh doanh ứng dụng, việc thiếu phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế hay môi trường nghiên cứu chuẩn mực có thể khiến chất lượng thực tế không tương xứng với chuẩn quốc tế được quảng bá.
Vấn đề nằm ở thực thi và giám sát
Trao đổi với báo chí, một tân cử nhân tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh từ một cơ sở giáo dục đại học lớn tại Hà Nội và một trường đại học của Anh cho biết, mỗi kỳ học có 4 môn, nhưng chỉ 1-2 môn do giảng viên nước ngoài trực tiếp giảng dạy, còn lại là trách nhiệm của giảng viên trong nước. Bộ Giáo dục và Đào tạo từng tiến hành rà soát, yêu cầu chấn chỉnh, thậm chí dừng tuyển sinh một số chương trình liên kết chưa đủ điều kiện. Điều đó cho thấy vấn đề không nằm ở việc thiếu quy định, mà ở khâu thực thi và giám sát.
Chuyển giao giáo trình không đồng nghĩa với chuyển giao toàn bộ hệ sinh thái đào tạo. Một chương trình quốc tế đúng nghĩa phải bao gồm chuẩn giảng viên, chuẩn đánh giá, chuẩn nghiên cứu và chuẩn trách nhiệm giải trình. Nếu chỉ dừng ở “nhượng quyền nội dung” mà thiếu kiểm định độc lập, người học có thể phải trả mức học phí cao cho một trải nghiệm học thuật chưa tương xứng.
Thiếu minh bạch và lo ngại về chuẩn đầu vào
Năm 2022, sau đợt rà soát tổng thể, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết khi đó có hơn 600 chương trình liên kết quốc tế bậc đại học, nhưng hơn 60% đối tác không thuộc nhóm đại học nằm trong top 1.000 thế giới; việc tìm kiếm thông tin chính thống, minh bạch về nhiều chương trình rất khó khăn. Sự thiếu minh bạch này khiến phụ huynh, sinh viên gặp khó khi đánh giá chất lượng thực sự và dễ lựa chọn nhầm chương trình hình thức thay vì chất lượng thực tế.
Khoảng một thập niên trở lại đây, các trường đại học lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân… đều mở rộng hợp tác với các trường tại Anh, Úc, Mỹ, Pháp, Hàn Quốc. Khối ngoài công lập cũng tham gia mạnh mẽ. Mô hình liên kết cho phép sinh viên học 1-2 năm đầu tại Việt Nam rồi chuyển tiếp ra nước ngoài, hoặc học toàn bộ chương trình trong nước nhưng nhận bằng do đối tác quốc tế cấp. So với du học toàn phần tốn hàng tỷ đồng, đây là phương án tiết kiệm chi phí, giảm rủi ro thích nghi, đồng thời giữ chân nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, chuẩn đầu vào của nhiều chương trình liên kết hiện không nằm trong khuôn khổ quy chế tuyển sinh đại học. Trong khi chương trình chính quy yêu cầu thí sinh đạt ngưỡng học lực, điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, điểm thi đánh giá tư duy, đánh giá năng lực… thì ở không ít chương trình liên kết, điều kiện chỉ là tốt nghiệp trung học phổ thông, có IELTS 5.5; một số có thêm vòng phỏng vấn.
Nguy cơ “bình thông nhau” về chỉ tiêu
Năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu thí sinh xét tuyển bằng học bạ hoặc điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông phải đạt điểm sàn 15 điểm/tổ hợp xét tuyển. Giáo sư Tiến sĩ Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) đánh giá, các quy định siết chuẩn đầu vào năm nay là “một đòn mạnh” nhằm lập lại kỷ cương trong tuyển sinh. Quy định điểm sàn, xác định chỉ tiêu sẽ phần nào phơi bày góc tối của bức tranh tuyển sinh thời gian qua.
Song, theo một chuyên gia trao đổi với báo chí, khi Bộ siết tuyển sinh chính quy, chỉ tiêu có thể được bù sang các chương trình liên kết - vốn không chịu ràng buộc trực tiếp về chuẩn đầu vào và không bị khống chế chỉ tiêu như hệ chính quy. Vị này cho biết, rất ít chương trình liên kết công bố chỉ tiêu; thậm chí có chương trình tuyển sinh nhiều hơn chính quy. Trong bối cảnh học phí giữa chương trình chất lượng cao, tiên tiến và liên kết không chênh lệch lớn, các chương trình liên kết có thể trở thành “nồi cơm” của nhiều trường đại học trong thời gian tới.
Việc siết chặt chuẩn đầu vào hệ chính quy là bước đi cần thiết để lập lại kỷ cương tuyển sinh và bảo vệ giá trị của tấm bằng đại học. Tuy nhiên, nếu không đồng thời kiểm soát chặt các chương trình liên kết quốc tế, chính sách này có thể tạo ra hiệu ứng “bình thông nhau” về chỉ tiêu, làm giảm hiệu quả của các nỗ lực cải thiện chất lượng giáo dục đại học.



