Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2019/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Theo đó, tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được phép cho vay trung, dài hạn được nâng từ 30% lên 40%, đồng thời cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi được điều chỉnh theo hướng chỉ loại trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động
Quyết định này đánh dấu sự đảo chiều sau lộ trình giảm dần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn về 30% từ tháng 10/2023. Theo số liệu của Công ty Chứng khoán Rồng Việt, đến cuối tháng 5/2026, tín dụng toàn hệ thống tăng 5,71% so với đầu năm, trong khi huy động vốn chỉ tăng 2,98%. Chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và huy động trên thị trường 1 ước vượt 2,5 triệu tỷ đồng, đưa tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi) lên khoảng 115%, từ mức 109% cuối năm 2025.
Trong khi đó, ngân sách nhà nước bội thu gần 500.000 tỷ đồng trong 5 tháng đầu năm, nhưng giải ngân đầu tư công đến ngày 21/5/2026 chỉ đạt 180.000 tỷ đồng, tương đương 18% kế hoạch năm. Một lượng tiền lớn của Kho bạc tiếp tục bị neo tại các ngân hàng quốc doanh.
Đánh giá từ chuyên gia: Cơ hội và rủi ro
Ông Đỗ Bảo Ngọc, Phó Tổng Giám đốc Chứng khoán Kiến thiết Việt Nam (CSI) nhận định, việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn mà không phải gia tăng mạnh huy động vốn dài hạn. Điều này làm giảm áp lực phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi hoặc chạy đua lãi suất huy động dài hạn.
Tương tự, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi (NTU) cho rằng việc nới tỷ lệ giúp hệ thống ngân hàng linh hoạt hơn trong phân bổ nguồn vốn. Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) ước tính việc nâng trần có thể tạo thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng trung, dài hạn. Tác động này càng được khuếch đại khi NHNN đồng thời chấp thuận cơ chế đặc biệt miễn room cho 18 dự án hạ tầng trọng điểm của Vingroup, Sun Group và Masterise, với tổng nhu cầu vốn 752.000 tỷ đồng (28 tỷ USD). Ngoài ra, 25 tổ chức tín dụng được loại trừ dư nợ nhà ở xã hội và khu công nghiệp khỏi room tín dụng bất động sản.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Quang Huy cũng chỉ ra ba rủi ro: rủi ro lãi suất khi chi phí huy động ngắn hạn biến động nhanh hơn lãi suất cho vay dài hạn; rủi ro tín dụng nếu tiêu chuẩn thẩm định bị hạ thấp; và rủi ro thanh khoản khi khoảng cách kỳ hạn ngày càng lớn.
Thực thi thận trọng: Tỷ lệ 40% là trần pháp lý, không phải mục tiêu
TS Châu Đình Linh, giảng viên Trường đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh, điều quan trọng nằm ở cách từng ngân hàng tổ chức thực hiện. Việc sử dụng dư địa phải gắn với sức khỏe tài chính, chất lượng tài sản và năng lực quản trị. Những ngân hàng có nền vốn mỏng, phụ thuộc nhiều vào tiền gửi ngắn hạn không nên khai thác tối đa mức được phép. Tỷ lệ 40% là trần pháp lý, không phải mục tiêu mà mọi ngân hàng phải hướng tới.
Ngân hàng có nguồn tiền gửi ổn định, hệ số an toàn vốn cao và danh mục khách hàng tốt có thể mở rộng cho vay dài hạn mà vẫn kiểm soát được rủi ro. Ngược lại, ngân hàng đang phải tăng lãi suất để giữ tiền gửi không thể coi phần room mới là nguồn vốn miễn phí. Nếu chi phí đầu vào tăng nhanh trong khi lãi suất các khoản vay dài hạn điều chỉnh chậm, biên lợi nhuận sẽ bị thu hẹp và áp lực rủi ro có thể chuyển sang những năm sau.
Bất động sản có lợi thế tự nhiên trong hấp thụ vốn
Phần tín dụng tăng thêm được đổ về đâu phụ thuộc vào cách ngân hàng lựa chọn khách hàng. Các lĩnh vực cần vốn trung, dài hạn gồm bất động sản, hạ tầng, năng lượng và công nghiệp chế biến. Thông tư 25 mở không gian cho các khoản vay trung, dài hạn, đối tượng hưởng lợi trực tiếp là doanh nghiệp mở rộng nhà máy, đầu tư dây chuyền, phát triển năng lượng, kho vận, chuyển đổi số hoặc công nghệ xanh.
Trong các nhóm ngành, bất động sản thường có lợi thế hơn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng. Năm 2025, tín dụng bất động sản tăng khoảng 22%, cao hơn mức tăng 19% của tín dụng toàn hệ thống. Đến cuối tháng 2/2026, dư nợ phục vụ hoạt động kinh doanh bất động sản theo Bộ Xây dựng đạt khoảng 2,235 triệu tỷ đồng, tăng 11,7% so với cuối quý IV/2025 và tăng 43% so với cùng kỳ. Lợi thế này đến từ quy mô khoản vay lớn, tài sản hình thành từ vốn vay có thể làm tài sản bảo đảm, tiến độ giải ngân rõ ràng. Với dự án đã hoàn tất pháp lý, có đất sạch và dòng tiền bán hàng, khả năng hấp thụ vốn thường nhanh hơn doanh nghiệp sản xuất đầu tư dây chuyền mới nhưng chưa chứng minh được thị trường đầu ra.
Điều này đặt ra lo ngại về việc nguồn vốn mới sẽ tiếp tục tập trung vào lĩnh vực có tài sản bảo đảm tốt, trong khi mức đóng góp cho năng suất dài hạn không đồng đều. Một công trình kéo dài nhiều năm có thể tạo động lực tăng trưởng khi hoàn thành, nhưng trong quá trình xây dựng, ngân hàng phải chịu rủi ro chậm tiến độ, đội vốn, biến động lãi suất và khả năng dòng tiền không hình thành đúng dự kiến. Ranh giới hợp lý không phải “sản xuất tốt, bất động sản xấu” mà tín dụng chỉ thực sự hỗ trợ tăng trưởng khi vốn được chuyển hóa thành nhà máy, công trình và tài sản đang hoạt động. NHNN cần giám sát chặt mức độ tập trung tín dụng theo khách hàng, nhóm khách hàng, lĩnh vực và thời hạn.



