Đèo Ngang, ranh giới tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình, từ lâu đã đi vào ca dao với câu "Đèo Ngang gánh nặng hai vai/Một vai Hà Tĩnh, một vai Quảng Bình". Địa danh này ghi dấu bao bước chân tiền nhân xuôi Nam ngược Bắc, trong đó có những người đã để lại kỷ niệm khi qua nơi đây. Quen thuộc nhất là Bà Huyện Thanh Quan với bài thơ "Qua Đèo Ngang" nhuốm màu tâm sự tình riêng, tình chung khi qua đây một buổi chiều tà. Cảnh quan con đèo thuộc dãy Hoành Sơn vẫn còn đó: "Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà/Cỏ cây chen đá, lá chen hoa/Lom khom dưới núi, tiều vài chú/Lác đác bên sông, chợ mấy nhà". Đó là cảnh thâm sơn cùng cốc của Đèo Ngang thế kỷ 19 khi phương tiện giao thông, đường sá còn thô sơ.
Trần Hữu Tư, trong hành trình du lịch từ Nam ra Bắc, đã ghi nhận cảnh sắc thiên nhiên rợn ngợp thu vào tầm mắt trong "Hải Long du ký": "Kìa là một dãy Hoành Sơn chập chồng đá dựng, lớp này kế lớp khác, không biết tới đâu là cùng; nọ là những quả núi cao tột mây xanh, có nhiều cảnh thiên nhiên của tạo vật phô bày lạ lùng, chẳng có thể nào mà tả cho xiết". Phân giới tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình với Đèo Ngang cũng được ghi nhận trong đôi câu "Hoành Sơn giống bức trường thành/Phân cách Hà Tịnh Quảng Bình làm đôi" trong "Quảng Bình địa dư tiện đọc" (1926) của Đốc học tỉnh Quảng Bình Trần Kinh.
Tản Đà khi dừng chân tại đây, tinh thần du lịch đã khác nhiều, tươi mới hơn khi thưởng lãm cảnh quan trên hành trình xe hơi vào Huế: "Danh sơn gặp khách hữu tình/Đèo Ngang ơi hỡi, là mình với ta". Gặp cảnh đẹp, xe dừng lại để người thu trọn không gian bốn bề vào tầm mắt, thi sĩ không chỉ ngắm cảnh hiện tại mà còn nhớ tới lịch sử mở cõi của cha ông: "Nhớ từ hoàng Nguyễn long hưng/Cơ đồ gây dựng cũng rằng từ đây". Dẫu vậy, trong niềm vui trước cảnh đẹp, Tản Đà không quên điểm qua dấu ấn: "Giang san từ ấy đến nay/Nào giăng mặt bể, nào mây trên ngàn/Ải xưa bia cũ còn truyền/Oai linh cảnh thắng, bàng hoàng khách du" ("Chơi Huế"). Còn Phạm Quỳnh trong "Mười ngày ở Huế", khi qua Đèo Ngang, đã khen phong cảnh ngoạn mục như một bức tranh sơn thủy.
Khám phá động Phong Nha qua ghi chép xưa
Không rõ trước thập niên 1920 đã có ai viết về động Phong Nha chưa, nhưng vào năm 1926, trong "Quảng Bình địa dư tiện đọc", Đốc học Trần Kinh đã xếp Phong Nha vào hàng danh thắng của tỉnh với đôi câu lục bát: "Lại xem các cảnh chùa hang: Phong Nha cốc tự rõ rành cảnh tiên". Kèm theo là chú thích: "Chùa hang Phong Nha ở về làng Phong Nha huyện Bố Trạch từ Đồng Hới đi tới đó 48 km. Cảnh hang ấy tốt đẹp một cách lạ thường".
Trong "Quảng Bình thắng tích lục", Trần Kinh cho biết động có khe nước chảy ra dài nghìn thước, rộng sáu, bảy thước, có thể đi thuyền vào. Trong động, phía trên là vòm đá uốn cong, dưới là khe nước xanh trong, nước trên trần nhỏ xuống tạo thành thạch nhũ "có đủ các sắc màu, lại thêm có ánh sáng mặt trời ở ngoài nhấp nhánh chiếu vào, làm thành bao nhiêu kỳ hình quái trạng, như là: tượng phật ngành hoa, áo xiêm, đai mũ, kể đà không xiết". Sau này, Trần Hữu Tư ghé thăm và gọi là động Phong Nhã. Trên đường vào động, ông thấy "hai bên vách toàn là đá trắng ngà ngà, xem rất đẹp mắt". Trong lòng động, kỳ quan thiên tạo gây cảnh tượng hư hư thực thực như chốn thần tiên: "Tới nơi sáng suốt, thấy trên trần động thạch nhũ trắng phau, thòng xuống tựa hồ như giăng trướng treo màng, thì mình cảm tưởng như Từ Thức lạc tới động Giáng Hương".
Theo Trần Kinh, đi hết khe nước tới bãi cát, nhìn lên trên cao là mênh mang như đường chân trời, đi thêm một đoạn là hố sâu thăm thẳm chưa ai khám phá. Còn ông Tư sau khi bỏ ghe leo lên nơi cao mà ông gọi là đèo, có lỗ thông nên ánh sáng tràn vào. Dấu vết "chùa hang Phong Nha" được Trần Kinh đề cập, Trần Hữu Tư cung cấp thêm thông tin: "khi xuống đèo lại tưởng mình để chơn tới cảnh Phật, vì tại đó có sẵn cả mõ và chuông, không rõ ai đem để đó; có lẽ trước kia có ông sư nào đến ở tu, mà ngày nay đã siêu thoát rồi chăng?". Ông kể tiếp: "Thấy động êm tịnh, chúng tôi ở chơi, rồi bày đồ ra ăn, kế nằm luôn tại đó nghỉ mệt, lóng tai nghe bên ngoài sóng vỡ vào động dập dềnh, dường như nhạc trỗi rất êm tai, ngủ quên hồi nào không hay". Trước cảnh quan rộng lớn và êm dịu, du khách ngỡ mình xa cõi nhân gian xô bồ, gần cảnh tiên Phật, nên đúc kết rằng nơi đây "để di dưỡng tinh thần cho đến ngày quy liễu thật là yên ổn biết dường nào!".
Cảnh sắc động Phong Nha được Trần Hữu Tư ghi chép có phần đơn giản so với những khám phá sau này. Gần trăm năm sau, người ta mới phát hiện thêm nhiều hang động, sông ngầm trong khu vực vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Nhưng ở thời điểm nửa đầu thế kỷ 20, Phong Nha đã được biết đến là một danh thắng rồi. (còn tiếp)



