Nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và những trang nhật ký chiến trường còn dính máu
Nguyên Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị và nhật ký chiến trường còn dính máu

Cuối tháng 5/2026, nhà thơ Thanh Thảo từ Quảng Ngãi gửi cho tôi mấy cuốn sách Những người đi tới biển & các trường ca khác dày 600 trang, gồm 15 trường ca viết trong gần nửa thế kỷ qua, vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành. Thanh Thảo nhờ tôi mang một cuốn có chữ ký sang tặng người bạn thân thiết từ hồi chiến trường, cùng làm báo, làm công tác binh vận và suýt mấy lần hy sinh. Đó là ông Phạm Quang Nghị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội.

Những trang nhật ký còn dính máu

Tôi mang cuốn sách tới nhà, ông Nghị ra tận cửa đón. Từ ngày nghỉ hưu đến nay, ông đã in hơn chục đầu sách, đáng chú ý có cuốn nhật ký Nơi ấy là chiến trường dày hơn 500 trang, tự truyện Đi tìm một vì sao dày 650 trang và tập thơ mỏng Nỗi nhớ vùng ven. Năm 22 tuổi, rời ghế Đại học Tổng hợp Hà Nội, chàng sinh viên Phạm Quang Nghị vào chiến trường B2 Nam Bộ và những trang nhật ký đã theo ông suốt 5 năm đối mặt với bao gian lao, thử thách.

Về cuốn nhật ký, ông cho biết: "Những trang nhật ký được tôi ghi khá đều mỗi ngày trong những khoảnh khắc có phần không bình thường. Có những trang viết dọc đường hành quân. Có những trang viết trong những ngày lặng im tiếng súng. Nhưng có rất nhiều trang được viết giữa những làn đạn sáng lòe trong đêm vụt bay qua nóc hầm hoặc trong lúc cơn sốt rét đang hành hạ bản thân. Và có cả một vài trang bây giờ mở ra xem còn dính máu."

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Kỷ niệm chiến trường và tình quân dân

Trước khi lên đường đi B năm 1971, ông được dự khóa 4 Hội Nhà văn Việt Nam bồi dưỡng nhà văn trẻ ra chiến trường với nhiều tên tuổi như Đỗ Nam Cao, Lê Quang Trang, Nguyễn Bảo, Hà Phương, Lê Điệp, Trần Thị Thắng, Nguyễn Trí Huân, Vũ Thị Hồng, Trần Văn Thành… Họ được các cây bút lừng lẫy như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Thu Bồn, Phan Tứ, Bùi Hiển trực tiếp giảng dạy. Tháng 4/1971, ông cùng 60 học viên lên đường vào chiến trường phía Nam.

Khi vào đến Đồng Tháp Mười, ông gặp nhà thơ Thanh Thảo ở vùng chiến trường đồng bằng khốc liệt. Đoàn công tác bị kẹt lại ở một lộ đất trong cuộc đụng độ giữa quân ta và quân lực Sài Gòn trên mảnh đất chiến trường Ấp Bắc. Kỷ niệm đáng nhớ là hai ông phải nhịn đói suốt 3 ngày ở ven lộ bốn. Sau đó, trong bài thơ dài Một người lính nói về thế hệ mình, Thanh Thảo đã viết: "Tôi gặp thằng bạn thân trong một chuyến bất ngờ/đêm Mỹ Long hai đứa nằm lộ đất/trải dưới trời một tấm ni lông nơi khi chiều B52 bừa ba đợt/nơi mấy năm rồi hố bom không đếm hết/nơi tôi chợt niềm mơ giản dị của mình/chừng nào thật hòa bình/ra lộ bốn trải ni lông nằm một đêm cho thỏa thích/thằng bạn tôi đăm đăm/nhìn một ngôi sao mọc trong hố bom nhòe nước/đôi mắt nó lạ lùng mà tôi thấy được/chứa đầy một hố bom và một ngôi sao". Hình tượng ngôi sao trong hố bom đã gợi cảm hứng cho tựa đề cuốn tự truyện Đi tìm một vì sao.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Ông Nghị kể: "Trong một đêm chờ trời tối để vượt qua lộ bốn, có ông già tên Bảy ở ấp chiến lược mang chai rượu đế, túi ni lông đựng mấy khúc cá nấu chua, rót mỗi người một ly rượu nhỏ và chúc lên đường bình an. Ông bảo: 'Cho chú em ly rượu uống đi và ăn một miếng cá để lát nữa chạy cho vững chân, tránh bọn địch đuổi bắn, nếu có rủi thì trước khi chết đã được uống rượu của dân'. Có anh đi sau tôi định từ chối, ông già bảo: 'Uống đi, tao chỉ cho chú em một ly thôi, không uống say đâu mà sợ, uống cho mạnh chân mà chạy, rủi có chết thì mày cũng đã được uống rượu rồi'. Ông còn cho một bao thuốc lá ru-bi và dặn khi vượt qua lộ rồi mới hút. Tình cảm quân dân thật ấm áp, xúc động."

Bài thơ về mối tình lỡ dở vì chiến tranh

Đọc cuốn nhật ký, tôi thấy nhiều trích đoạn thơ. Khi hỏi về chuyện làm thơ, ông khiêm tốn nói: "Việc ghi lại vội vàng cảm xúc trong chiến tranh là việc 'mạo hiểm' vì tôi không phải nhà thơ. So với tất cả công việc tôi đã làm trong chiến tranh như hành quân, đào hầm, bắn súng, lấy củi, làm lán trại, nấu ăn trong rừng… thì cái việc vụng về nhất của tôi là làm thơ." Những kỷ niệm chiến trường đã trở thành máu thịt: "Nhớ vùng ven quay quắt trong lòng/Nơi sinh tử những căn hầm bám trụ/Những hạt gạo chắt chiu nuôi cán bộ/Những con đường thấm máu tháng năm."

Nhận xét về tập thơ Nỗi nhớ vùng ven, Thanh Thảo nói: "Tôi biết bạn tôi trước đây và cả bây giờ đều không chủ tâm để thành nhà thơ. Nhưng anh đã làm thơ như để ghi lại những nghĩ suy, cảm xúc. Phạm Quang Nghị không chủ tâm đi chiến trường để ghi nhật ký và làm thơ nhưng anh đã ghi rất nhiều trang từ buổi lên Trường Sơn, băng qua Đồng Tháp Mười, bám trụ ở vùng ven lộ bốn Mỹ Tho, về Thanh Điền, Tây Ninh cho đến ngày giải phóng. Những trang viết ấy, sau chiến tranh ngót 50 năm, trở nên quý giá với chính người viết. Những bài thơ của anh xuất phát từ tâm can, chân thật, bình dị."

Đặc biệt, bài thơ Chân thật kể về mối tình dang dở vì chiến tranh: "…Em nhắc lại cái thời chiến tranh/Lửa tình yêu cháy cùng lửa đạn bom ngoài mặt trận/Em nói lửa chiến tranh ngút trời thù hận/Mà sao tắt được anh ơi/Còn ngọn lửa của riêng em/Cứ cháy suốt cuộc đời/Anh không biết vì sao như thế/Cứ mỗi lần em gặp lại anh/Là em kể chuyện thời chiến tranh/Cùng với bao nỗi đau cay nghiệt/Có phải vì trong chiến tranh con người yêu say nhau mà không hề sợ chết/Hay vì chiến tranh đã làm đứt mối tình/Em nói tình yêu không thể nào đem chia sẻ được/Và không thể dùng khuôn mà đúc những mối tình dù đó là cái khuôn đẹp nhất/Trong tình yêu không ai được quyền thay mặt/Người con gái nào cũng muốn tự mình và một mình giành lấy người yêu/Cuộc đời em đã mất mát rất nhiều/Em đánh mất nhưng không đành chịu mất/Lời em bão giông chân thật/Khi chết rồi em sẽ lấy lại anh."

Đây là bài thơ hay nhất của ông, cháy sáng dữ dội trước mối tình tan vỡ. Sau ngày hòa bình, mỗi lần về thăm quê, ông gặp lại người con gái năm xưa. Cả hai đều đã có gia đình và trân trọng nhau như bạn cũ. Ánh mắt sâu thẳm của người con gái luôn ẩn giấu cả khung trời kỷ niệm, và bài thơ ra đời. Trong hồi tưởng, ông viết: "Trên thế gian này còn gì đẹp hơn, quý giá hơn tình yêu, vậy mà ngày ấy tôi lại tự nguyện chối từ. Chối từ để đón nhận một nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng, cao cả. Tôi lên đường đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, làm tròn bổn phận của một trang nam nhi thời chống Mỹ để mãi mãi không hổ thẹn với lương tâm. Tôi đã đánh mất một mối tình thật đẹp."