Đình Vĩnh Phước thờ Thượng đẳng thần Tống Phước Hòa - vị tướng khai hoang phương Nam
Đình Vĩnh Phước thờ Thượng đẳng thần Tống Phước Hòa

Ngôi đình cổ kính giữa lòng Sa Đéc

Tọa lạc tại đường Trần Hưng Đạo, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, đình Vĩnh Phước, còn gọi là đình Gạo, được xây dựng vào năm 1807. Đây là một trong những ngôi đình có kiến trúc đẹp nhất vùng, thờ vị quan nổi tiếng có công giúp dân khai hoang lập ấp vùng đất phía nam sông Tiền, xưa gọi là Đông Khẩu đạo. Vị quan ấy là Tổng binh Tống Phước Hòa.

Thân thế và sự nghiệp của Tống Phước Hòa

Theo Đại Nam liệt truyện, Tống Phước Hòa là em chú bác của Lưu thủ dinh Long Hồ Tống Phước Hiệp. Năm Nhâm Thìn (1772), ông được cử làm Tổng binh Đông Khẩu đạo. Ông là người võ nghệ cao cường, am tường binh thư đồ trận, tính tình cương trực. Cuối năm Tân Mão, quân Xiêm sang cướp phá Hà Tiên, ông cùng Lưu thủ Tống Phước Hiệp, Chưởng cơ Tống Phước Thiêm và Cai bạ dinh Long Hồ Nguyễn Khoa Thuyên đem binh thuyền chặn đánh, phá giặc tại sông Cùng. Quân Xiêm bỏ thuyền tháo chạy.

Những trận chiến lịch sử

Đại Nam thực lục tiền biên chép, năm Ất Mùi (1775), theo lời tâu của các quan, Định vương Nguyễn Phúc Thuần lập Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương làm thế tử, gọi là Đông cung, cho trấn phủ Quảng Nam. Được vài ngày thì Tây Sơn sai Tập Đình và Lý Tài đem thủy binh ra cửa biển Hiệp Hòa, bộ binh của Nguyễn Nhạc thì theo ven núi ra sông Thu Bồn, hai đạo đánh tới. Nguyễn Cửu Dật chống không nổi phải chạy ra Trà Sơn. Đông cung lui về Cu Đê. Tháng 7 năm ấy, Tống Phước Hiệp thua trận ở Phú Yên, lui về giữ Hòn Khói, Chưởng cơ Tống Phước Hòa giữ Ô Cam.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Mùa xuân năm Bính Thân (1776), Tây Sơn tấn công Gia Định, Định vương Nguyễn Phúc Thuần chạy ra Trấn Biên, Tống Phước Hiệp sai Tống Phước Hòa đem quân vào cứu chúa rồi đóng đồn ở Lượng Phụ (núi Thị Vải) hợp quân các đạo lại tổ chức phản công, chiếm lại Sài Gòn. Tống Phước Hòa được thăng làm Chưởng thủy doanh Quận công.

Nội bộ bất hòa và thảm kịch

Thủ lãnh đạo quân Hòa Nghĩa là Lý Tài trước theo Tây Sơn, sau phản Tây Sơn về với Định vương Nguyễn Phúc Thuần. Khi Lý Tài theo Tống Phước Hiệp vào cứu viện, chúa muốn thu dùng, nhưng Đỗ Thanh Nhân mạt sát Lý Tài, nên dẫn tới hiềm khích. Sau khi Tống Phước Hiệp mất, Lý Tài lo sợ bèn đem quân chiếm giữ núi Chiêu Thái. Đỗ Thanh Nhân đánh không được, đắp lũy ở Bến Nghé và Nghi Giang (sông Thị Nghè) để giữ. Thấy nội bộ bất hòa, chúa rất lo nên sai Tống Phước Hòa và Tống Phước Thiêm đem quân đóng ở Long Hồ phòng biến cố xảy ra.

Câu nói bất hủ: 'Chúa lo thì tôi phải chết'

Tháng 3 năm Đinh Dậu (1777), Nguyễn Huệ chỉ huy quân thủy bộ vào Gia Định. Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương giao Lý Tài giữ Sài Gòn rồi tự đem quân đóng ở Trấn Biên. Lý Tài nhiều lần đánh với thủy binh Tây Sơn và thua trận. Theo Đại Nam thực lục, tháng 4 năm Đinh Dậu, Tây Sơn đánh Tài Phụ (Gia Định), Định vương chạy xuống Long Hưng (Định Tường) rồi qua Trấn Giang (Cần Thơ) hợp binh với Mạc Thiên Tích. Khi Tây Sơn đánh Tranh Giang, Tân Chính vương lui về Trà Tân rồi được Chưởng cơ Thiêm Lộc đem thủy binh đón về Ba Vát (nay thuộc Bến Tre). Vương sai Tống Phước Hựu giữ Mỹ Lồng, Thiêm Lộc giữ Hương Đôi, Tống Phước Hòa quản lĩnh các quân hộ vệ mặt trận để chống cự.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Khi quân Tây Sơn kéo tới vây đồn Ba Vát, Thiếu phó Tôn Thất Chí, Nội tả Nguyễn Mẫn, Chưởng cơ Tống Phước Hựu đều lần lượt mất vì bệnh. Chỉ còn Chưởng cơ Tống Phước Hòa đơn độc chống cự. Tháng 8 năm Đinh Dậu, Nguyễn Huệ tăng thêm quân đánh Hương Đôi, Chưởng cơ Thiêm Lộc chạy về Ba Vát. Thấy quân ít, lương hết, Tân Chính vương bàn kế chạy về Bình Thuận họp quân với Châu Văn Tiếp nhưng không kịp. Tống Phước Hòa than rằng: "Chúa lo thì tôi phải chết, nghĩa không thể tránh được", rồi tự tử.

Ngày 19.9 năm Đinh Dậu (1777), Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương cùng 18 quan theo hầu đều bị giết. Đúng một tháng sau, ngày 18 tháng 10, Định vương Nguyễn Phúc Thuần cùng Tôn Thất Đồng, cha con Chưởng cơ Trương Phúc Thận, Lưu thủ Lương và Tham mưu Nguyễn Danh Khoáng cũng chịu chung số phận tại Long Xuyên (Cà Mau). Chỉ có Nguyễn Phúc Ánh may mắn chạy thoát.

Dân làng lập miếu thờ

Sau khi Chưởng cơ Tống Phước Hòa mất, người dân thương tiếc, lập ngôi miếu thờ ông tại thôn Vĩnh Phước, huyện Vĩnh An (gần chợ Sa Đéc bây giờ). Cơ sở thờ tự này nổi tiếng linh thiêng và được triều đình nhà Nguyễn cấp nhiều đạo sắc phong. Khoảng năm 1946, ngôi miếu bị hư hại do chiến tranh, Ban tế tự miếu đem sắc thần của ông về thờ chung ở đình Vĩnh Phước.

Từ điển địa danh Đồng Tháp chép, năm 1807 dân làng Vĩnh Phước lập ngôi đình bằng cây gỗ trong khuôn viên rộng gần 1.700 m2, được trùng tu vào các năm 1904, 1936, 1952 và 2001. Hiện nay, dù khuôn viên chỉ còn khoảng 300 m2, nhưng đình vẫn giữ nguyên mẫu kiến trúc cổ kính, trên 4 trụ cột cổng là đôi câu đối: "Vĩnh bảo hương thôn an thạnh lợi/Phước chiêm bá tánh thọ hương xuân", "Thánh đức oai linh phò bổn xứ/Thần ân hiển hách hộ nhân dân".

Ngoài các sắc phong Thành hoàng Bổn cảnh (1852) là 4 lá sắc do triều đình nhà Nguyễn phong cho Chưởng cơ Tống Phước Hòa, được gửi vào thờ. Tại ngôi đình này hiện lưu giữ lá sắc rất hiếm, phong cho Tiền cai cơ Đông Khẩu đạo Nhân hòa hầu Nguyễn Văn Nhơn, còn gọi Quan lớn Sen, vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822).

Đến cuối thế kỷ 19, mặc dù Nam Kỳ lục tỉnh bấy giờ là thuộc địa của thực dân Pháp, triều đình Huế không còn thực quyền, nhưng do dân làng tâu xin nên ngày 14 tháng 9 năm Khải Định thứ 6, Chưởng cơ Tống Phước Hòa lại được cấp sắc, được thăng Thượng đẳng thần với mỹ tự là Trác Vĩ Dực Bảo Trung Hưng. (còn tiếp)