Mở khóa 'mỏ vàng' du lịch y tế: Chọn sản phẩm chủ lực để đột phá
Mở khóa 'mỏ vàng' du lịch y tế: Chọn sản phẩm chủ lực

Mỗi năm, Việt Nam (tập trung tại TP.HCM) đón khoảng 100.000 lượt khách đến khám và điều trị răng, mang về nguồn thu khoảng 3.500 tỉ đồng (150 triệu USD), theo báo cáo của Sở Du lịch TP.HCM. Doanh thu này chủ yếu đến từ Việt kiều về nước kết hợp chữa răng, cùng với lượng khách quốc tế ngày càng tăng từ Úc, Mỹ, Anh, Pháp, Campuchia và Lào.

Thực trạng: Tiềm năng lớn nhưng chưa khai thác hiệu quả

Ngành du lịch và y tế TP.HCM đã nhận ra tiềm năng từ giai đoạn 2017-2018, từng xây dựng nhiều kế hoạch phát triển du lịch nha khoa thành sản phẩm mũi nhọn. Tuy nhiên, sau gần một thập niên, Việt Nam vẫn còn cách xa các đối thủ trong khu vực.

Mỗi năm, Thái Lan (tập trung ở Bangkok) đón tới 1,2 triệu lượt khách du lịch kết hợp làm răng, gấp 12 lần Việt Nam, với doanh thu từ 900 triệu đến 1,1 tỉ USD, gấp gần 7 lần. Malaysia cũng đạt 300.000-400.000 lượt khách mỗi năm, doanh thu 250-300 triệu USD. Đáng chú ý, nếu khách nước ngoài đến Việt Nam làm răng có tới 80% là Việt kiều, thì Thái Lan đón trọn dòng khách quốc tế thuần túy, chủ yếu từ Trung Đông và Trung Quốc. Khách của Malaysia chủ yếu đến từ Úc, Anh, Singapore, Indonesia và các nước láng giềng.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Nguyên nhân: Thiếu liên kết và chính sách đồng bộ

PGS-TS-BS Huỳnh Công Nhật Nam (Khoa Răng Hàm Mặt, Trường ĐH Y Dược TP.HCM) cho rằng điểm khác biệt lớn nhất không nằm ở trình độ chuyên môn, mà ở cách tổ chức thành một ngành kinh tế. "Về tay nghề, tôi tự tin khẳng định Việt Nam không thua kém các nước trong khu vực, đặc biệt ở lĩnh vực nha khoa. Giá điều trị chỉ bằng khoảng 1/3 các nước phát triển, trong khi chất lượng đã tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng có nghề giỏi không đồng nghĩa với việc đã xây dựng được một ngành du lịch y tế", ông Nam nói.

Theo ông, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở sự liên kết và cốt lõi là chính sách. Hiện mỗi bệnh viện, phòng khám phải tự tìm kiếm khách hàng, tự quảng bá và vận hành mà thiếu đầu mối điều phối chung. Việt Nam chưa có bộ tiêu chuẩn chất lượng được quốc tế công nhận, chưa có visa y tế chuyên biệt, chưa có cơ chế để các công ty bảo hiểm quốc tế thanh toán trực tiếp chi phí khám chữa bệnh cho khách nước ngoài. Khi chưa có khung chính sách đủ mạnh, rất khó hình thành chuỗi liên kết hoàn chỉnh giữa bệnh viện, doanh nghiệp lữ hành, hàng không, khách sạn và các đơn vị dịch vụ khác.

TS Trần Tường Huy, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu du lịch xã hội, đồng quan điểm cho rằng chúng ta chưa biết kết nối lợi thế thành sản phẩm phù hợp. Các lĩnh vực như nha khoa, thẩm mỹ, hỗ trợ sinh sản, khám sức khỏe tổng quát, xét nghiệm và y học cổ truyền đều có chất lượng tốt, chi phí cạnh tranh. Tuy nhiên, nhiều chương trình hiện nay mới chỉ là sự ghép nối cơ học giữa khám chữa bệnh và tham quan.

"Vai trò quản lý nhà nước đặc biệt quan trọng bởi du lịch y tế là sản phẩm đặc thù, liên quan trực tiếp đến sức khỏe, pháp lý và an toàn của khách hàng. Cần có một đơn vị đủ năng lực để giữ nhịp, kết nối các bên nhằm xây dựng sản phẩm hoàn chỉnh. Chỉ khi đó Việt Nam mới chuyển từ việc sở hữu nhiều lợi thế sang hình thành một ngành có sức cạnh tranh thực sự", TS Trần Tường Huy nhấn mạnh.

Ba mắt xích còn thiếu

PGS-TS-BS Huỳnh Công Nhật Nam chỉ rõ: So với Thái Lan, Singapore hay Malaysia, Việt Nam còn thiếu 3 mắt xích quan trọng mà các cơ sở y tế đơn lẻ không thể tự giải quyết.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Đầu tiên là thương hiệu quốc gia. Malaysia có Malaysia Healthcare Travel Council (MHTC) - cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm quảng bá, kết nối bệnh viện, hỗ trợ thủ tục visa, đưa đón bệnh nhân và giới thiệu các cơ sở đạt chuẩn. Trong khi đó, nếu một bệnh nhân tại Úc hay Việt kiều ở Mỹ muốn tìm hiểu về dịch vụ y tế của Việt Nam thì gần như không có địa chỉ chính thức nào đủ uy tín để tham khảo.

Thứ hai là chuẩn chất lượng quốc tế. Thái Lan hiện có hơn 60 bệnh viện đạt chứng nhận JCI, trong khi số lượng bệnh viện Việt Nam đạt chuẩn này còn rất hạn chế. Khách quốc tế không có khả năng tự đánh giá tay nghề bác sĩ. Điều họ cần là một chứng nhận độc lập đủ uy tín để tạo niềm tin. Nếu không có điều đó, họ chỉ đến vì chi phí rẻ chứ chưa phải vì thật sự tin tưởng chất lượng.

Mắt xích còn lại là dịch vụ trọn gói dành cho bệnh nhân quốc tế. Các trung tâm y tế hàng đầu của Thái Lan không chỉ bán một ca điều trị mà cung cấp toàn bộ hành trình, từ visa, phiên dịch y khoa, bảo hiểm, đưa đón sân bay đến chăm sóc sau điều trị. Bệnh nhân không chỉ mua một dịch vụ y tế, họ mua sự an tâm trong suốt hành trình điều trị. Đây là điều Việt Nam còn thiếu.

Định hướng sản phẩm chủ lực

TS Trần Tường Huy cho rằng Việt Nam không nên phát triển dàn trải mà cần lựa chọn các lĩnh vực có lợi thế rõ rệt. Với người cao tuổi, có thể phát triển mô hình nghỉ dưỡng kết hợp chăm sóc sức khỏe dài ngày. Với y học cổ truyền, các chương trình trị liệu kéo dài nhiều tuần ngay trong khu nghỉ dưỡng. Với nha khoa, hỗ trợ sinh sản hoặc tầm soát sức khỏe, các gói dịch vụ cần được thiết kế phù hợp với thời gian điều trị và tình trạng thực tế của người bệnh.

Ông Huy gợi ý tham khảo kinh nghiệm từ Ấn Độ, nơi có nhiều trung tâm y học cổ truyền được xây dựng ngay trong khu nghỉ dưỡng. Khách lưu trú nhiều tuần để trị liệu, phục hồi sức khỏe, trải nghiệm văn hóa và nghỉ ngơi tại cùng một không gian, thay vì liên tục di chuyển giữa bệnh viện và điểm du lịch.

Về dài hạn, Việt Nam cần khuyến khích nhiều bệnh viện đạt chuẩn chất lượng quốc tế, sau đó công bố danh sách chính thức để xúc tiến ra nước ngoài. Đối với bệnh viện công, cần có cơ chế mở hơn để hợp tác với các tập đoàn có kinh nghiệm vận hành bệnh viện, khách sạn và khu nghỉ dưỡng y tế. Những tổ hợp mới không nhất thiết đặt trong trung tâm thành phố mà có thể phát triển tại vùng ven biển, sinh thái hoặc đô thị vệ tinh.

"Cùng với hạ tầng, Việt Nam phải định vị thương hiệu quốc gia bằng một số sản phẩm chủ lực. Việc quảng bá không thể dừng ở những ca điều trị thành công riêng lẻ mà cần có chiến dịch thống nhất, danh sách cơ sở đạt chuẩn và thông tin minh bạch về giá, chất lượng, bảo hiểm và quyền lợi bệnh nhân", TS Trần Tường Huy nêu ý kiến.

Với năng lực chuyên môn hiện có, các bệnh viện và phòng khám Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những sản phẩm đạt chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, để du lịch y tế thực sự trở thành một ngành kinh tế quy mô lớn, cần hoàn thiện những mảnh ghép mà doanh nghiệp không thể tự làm, gồm thương hiệu quốc gia, hệ thống chứng nhận chất lượng quốc tế và cơ chế hỗ trợ đồng bộ cho bệnh nhân xuyên biên giới.