Cây sắn từ 'cây chống đói' đến niềm tự hào ẩm thực Việt
Cây sắn từ 'cây chống đói' đến niềm tự hào ẩm thực

Và chợt nhận ra có lẽ từ nay cây sắn sẽ lên ngôi, kể từ dạo xa lắc nó là thứ 'cây chống đói' cho bao người…

Vòng vèo qua những chặng đường

Đó là ký ức nhọc nhằn của một thời bao cấp thiếu đói, nhưng trong những tháng ngày ấy, cây sắn vốn là chỗ dựa vững chãi cho rất nhiều người, khi sản lượng lúa của từng vùng, từng hợp tác xã được thể hiện bằng công điểm mỗi ngày của xã viên chỉ tương đương vài ba lạng lúa. Sắn khoai đã trở thành cứu cánh, là món ăn lót dạ rất hiệu quả cho người dân, từ nông thôn đến thị thành.

Kể từ hàng ngàn năm trước, khi nói đến khởi sự của nền nông nghiệp thô sơ ở nước ta, thường được gọi là 'nền văn minh lúa nước', với sự đúc rút kinh nghiệm trong sản xuất của người nông dân, qua từng giai đoạn phát triển và dung nạp tiến bộ, cây lúa vẫn là cây lương thực chủ lực. Kế đến là các loại cây lương thực ăn độn truyền thống như khoai, bắp, dong, ấu…

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Riêng với cây sắn thì khác, nó là một thứ cây lương thực 'ngoại nhập' đến nước ta với tuổi đời chỉ non 2 thế kỷ. Từ rất xa xưa, ở vùng ven sông Amazon ở châu Mỹ xa xôi, sắn đi vòng vèo qua các vùng rừng rậm, rồi đến các miền ốc đảo của sa mạc Phi châu, để rồi du nhập vào các quần đảo của Đông Nam Á, mà khởi đầu là Indonesia vào thế kỷ 16. Để rồi sau đó, tiệm tiến dần dần qua bao thời kỳ, thử sức với thổ nhưỡng khí hậu, thử… bụng của người dân Việt, cây sắn có lượng tinh bột đặc biệt và hết sức dễ trồng, không ương ngạnh thái quá với miền đất nhiệt đới, đứng chân lại được nơi này!

Nhận được lòng... hiếu khách

Sở dĩ cây sắn được đón nhận và trở thành thân thiện với đại đa số người dân nói chung như Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia và người dân Việt nói riêng, là bởi tự sức chống chọi bền bỉ của nó, nếp sống tự nhiên với sức đề kháng cao, rất dễ trồng và đặc biệt là thích ứng với muôn hình vạn trạng cách thức chế biến qua bàn tay của người nội trợ của các quốc gia. Nó nhận được sự 'hiếu khách' của người bản địa như một người bạn đi qua những chặng đường gian lao đói khổ, cũng bởi sản phẩm từ củ của nó có thể nằm chỏng chơ trong rổ rá bình dân, lại cũng có lúc xuất hiện trong một hoàn cảnh sang trọng, nếu cần.

Không thể kể hết cây sắn đã hiện hữu và trải qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc ta như thế nào, song có lẽ chẳng ai phủ nhận rằng trong bối cảnh đất nước khi có chiến tranh hay lúc hòa bình, cùng với lúa gạo và các loại cây lương thực khác, sắn đã dự phần không nhỏ vào đời sống mọi nơi mọi lúc. Mà theo đánh giá của nhiều chuyên gia, sắn là loại cây lương thực đứng thứ 3, sau lúa và ngô. Chính vì vậy, biết ơn cây sắn và củ sắn không chỉ như hành động đơn lẻ trong điển tích nhớ ơn 'bát cơm phiếu mẫu' thời nhà Hán bên Tàu, mà vì sự phổ biến của nó, sự đắp đổi của nó trong một thời kỳ tao loạn, nhờ nó góp phần mà bao việc đã thành!

Nhiều người dân miền Trung, miền Bắc nước ta trong các đợt di dân trước, trong và sau các cuộc chiến tranh, khi đến với vùng đất Tây nguyên hay Đông Nam bộ bazan màu mỡ, mỗi khi về thăm bà con cố xứ, câu khoe cửa miệng của họ vẫn là 'xứ gì mà bẻ cái hom sắn cắm xuống đất là mọc nhanh vùn vụt, chỉ vài tháng đã ra đầy củ'. Ở làng quê của tôi nằm bên bờ vĩ tuyến 17, phía bắc tỉnh Quảng Trị cũ, câu chuyện ấy vẫn không ngoại lệ.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Kỷ niệm sắn thời sinh viên

Người viết chợt nhớ, cách đây 2 năm về Huế, trong một buổi tụ hội về họp lớp của khóa sinh viên Ngữ văn 1983 - 1987 Đại học Sư phạm Huế, anh bạn lớp trưởng Nguyễn Thanh Hà, vốn là giảng viên rồi sau đó chuyển sang vị trí Giám đốc Nhà xuất bản Đại học Huế cho đến khi về hưu, đón bạn bè đồng khóa ngay tại nhà riêng của mình bằng… mấy dĩa sắn củ đã luộc chín. Tíu tít bắt tay, mừng vui gặp mặt. Bước vô nhà, anh Hà đã đặt sẵn trên đó một bàn sắn bốc hơi nghi ngút. Ai cũng lặng đi, xúc động bồi hồi, bởi gần 40 năm trước, ngoài bữa cơm đói dài của cư xá Đội Cung, khóa sinh viên nào chẳng biết mấy quán sắn trên đường Lê Lợi. Sang một chút thì ra kêu tô bánh canh (cũng làm từ bột sắn, gọi là bột lọc) nấu với tôm của quán dì Thái dì Nhẫn, còn túi rỗng với mấy đồng bạc thì đi dài một đoạn hướng về phía Đập Đá, tạt vào quán sắn. Mỗi củ một đồng để lấp khoảng trống dạ dày kêu réo!

Đó là một khoảng thời gian cuối của giai đoạn bao cấp. Mỗi sinh viên rời nhà đi học, nhà nghèo chỉ lèo tèo mang theo vài ba lon gạo trong túi xách, còn cái bao nặng trĩu đều là… sắn. Lên giảng đường, ra khỏi thư viện… hầu như ai cũng thủ sẵn gói sắn luộc hay vài cái bánh bột lọc, đôi khi để chia sớt bạn bè. Gọi là quà quê, song đó là một thứ 'quà' chống đói hữu hiệu, để vượt qua những năm tháng bài vở của đời sinh viên trong một giai đoạn vô cùng khốn khó.

Cây sắn có tên khoa học là Cassava, thuộc họ thầu dầu, xuất hiện từ xa xưa ở các nước Nam Mỹ, sau đó du nhập nhiều nơi trên thế giới, nhưng tập trung chủ yếu ở khoảng 100 quốc gia thuộc châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Tại Đông Nam Á, các quốc gia Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia…, sắn là cây lương thực và công nghiệp quan trọng. Củ sắn thực ra là một loại rễ có chức năng dự trữ. Khi cây bắt đầu ra rễ, số lượng rễ con rất nhiều nhưng chỉ một số rễ được tích lũy đầy đủ tinh bột mới tiếp tục phát triển thành củ thu hoạch. Củ sắn có dạng hình trụ, tiết diện ngang có 4 phần: phần vỏ gỗ, phần vỏ thịt (tầng nhu mô vỏ), phần thịt củ (mô dự trữ) và phần lõi.

Hiện nay tại Việt Nam có khoảng 20 giống sắn phổ biến. Sự phát triển ngành công nghệ sinh học ethanol sử dụng sắn làm nguyên liệu đầu vào tại nhiều quốc gia châu Á cùng nhu cầu lương thực tăng tại châu Phi đã thúc đẩy mạnh nghề trồng sắn.