Cuốn sách “Lược sử khoa học và kĩ thuật Việt Nam tiền hiện đại” của nhóm tác giả Trần Trọng Dương, Phạm Vũ Lộc và Nguyễn Ngọc Phương Đông là một công trình liên ngành, kết hợp sử liệu, khảo cổ và thực nghiệm, nhằm phản bác những định kiến cho rằng người Việt thiếu đầu óc khoa học hoặc ngại thay đổi. Tác phẩm gợi mở về một truyền thống chủ động học hỏi, tiếp biến và sáng tạo tri thức trong lịch sử dân tộc.
Những dấu ấn kỹ thuật và tri thức từ thực tiễn
Cuốn sách cho thấy tinh thần chủ động học hỏi và năng lực đổi mới xuyên suốt của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa. Một trong những giá trị nổi bật là việc chỉ ra các kỹ thuật và tri thức bản địa gắn liền với đời sống. Nhiều công nghệ và phát minh đã vượt ra khỏi phạm vi trong nước, đóng góp vào tiến trình văn minh rộng lớn hơn.
Trong lĩnh vực hàng hải, người Lạc Việt đã dùng đồng bọc đáy thuyền để chống sinh vật đục gỗ, một kỹ thuật xuất hiện sớm hơn châu Âu khoảng 1.500 năm. Về nông nghiệp, triều Đại Việt tiếp thu giống lúa Chiêm sinh trưởng nhanh, chịu hạn, giúp giảm đói và đảm bảo an ninh lương thực. Trong quân sự, triều Hồ cải tiến súng với bộ phận cốc mồi có nắp đậy, giúp hỏa khí vận hành ổn định.
Bên cạnh kỹ thuật, cuốn sách còn cho thấy trình độ tri thức trong thiên văn, lịch pháp, địa lý và toán học. Người xưa hình thành hệ thống nhận diện riêng như chòm sao Tua Rua, sao Cày, sao Thần Nông, gắn liền với kinh nghiệm sản xuất. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là ví dụ điển hình về vận dụng địa lý, thủy văn và thủy triều vào chiến lược quân sự.
Tinh thần học hỏi, tiếp thu và cải biến công nghệ
Người Việt không thụ động tiếp nhận tri thức từ bên ngoài. Sứ thần thời Trần Đặng Nhữ Lâm từng sao chép sách cấm của nhà Nguyên để làm lịch. Thế kỷ XVII, Nguyễn Văn Tú sang Hà Lan học chế tạo đồng hồ cơ khí và kính thiên văn. Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các triều đại Tây Sơn và Nguyễn tiếp thu kỹ thuật đóng tàu phương Tây, cải biến phù hợp với điều kiện trong nước. Triều Nguyễn xây dựng thành trì kiểu Vauban, một thành tựu ứng dụng mô hình quân sự châu Âu.
Trong thiên văn và toán học, Nguyễn Hữu Thận tiếp thu tri thức phương Tây để xây dựng lịch Hiệp Kỷ thời Nguyễn, đạt độ chính xác cao. Nhiều tầng lớp xã hội từ vua chúa, quan lại, trí thức đến thợ thủ công và người lao động đều tham gia sáng tạo kỹ thuật. Các nhân vật như Vũ Như Tô, Lương Thế Vinh cho thấy khoa học - kỹ thuật gắn liền với đời sống.
Dù sử liệu còn hạn chế, những ghi nhận đủ gợi mở về truyền thống lao động sáng tạo. Cuốn sách gửi gắm thông điệp: khoa học và kỹ thuật luôn đồng hành với tiến trình phát triển xã hội Việt Nam. Công trình không chỉ cung cấp tư liệu mà còn góp phần nhìn lại định kiến về người Việt ngại thay đổi, thờ ơ với khoa học.
Với cách tiếp cận liên ngành, kết hợp sử liệu, khảo cổ và phương pháp hiện đại, cuốn sách tái hiện bức tranh khoa học - kỹ thuật có hệ thống, giúp người đọc nhìn nhận quá khứ cân bằng: không tự ti, không tự cao, mà tự tin dựa trên hiểu biết về truyền thống sáng tạo của dân tộc.



