Nghiên cứu cơ bản tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam
Nghiên cứu cơ bản tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Nghiên cứu cơ bản là nền móng của toàn bộ hệ thống khoa học và công nghệ. Đây là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá những quy luật, bản chất và hiện tượng của tự nhiên mà chưa đặt mục tiêu ứng dụng trực tiếp ngay lập tức. Loại hình nghiên cứu này mang tính nền tảng, tạo ra tri thức mới cho nhân loại. Không có nghiên cứu cơ bản thì sẽ không có các phát minh lớn và cũng không thể hình thành những công nghệ tiên tiến. Lịch sử khoa học đã chứng minh rằng hầu hết các công nghệ hiện đại ngày nay đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản. Những thành tựu như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, vật liệu mới, công nghệ bán dẫn hay năng lượng hạt nhân đều xuất phát từ các nghiên cứu cơ bản kéo dài nhiều thập kỷ trước đó. Từ những kết quả của nghiên cứu cơ bản, con người mới có thể phát triển các công nghệ mới và ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống.

Với các nước phát triển, nghiên cứu cơ bản thường hướng tới các phát minh mang tính đột phá nhằm duy trì vị thế dẫn đầu về khoa học và công nghệ. Các quốc gia này có đội ngũ chuyên gia đông đảo, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại và nguồn tài chính mạnh để đầu tư lâu dài cho nghiên cứu cơ bản. Đối với Việt Nam, theo chúng tôi, mục tiêu của nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn hiện nay nên khác so với các nước phát triển vì Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển với tiềm lực khoa học và công nghệ còn hạn chế. Mục tiêu hàng đầu của nghiên cứu cơ bản của Việt Nam không phải hướng tới các phát minh mang tính đột phá, mà là để đào tạo đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao. Đây chính là lực lượng nòng cốt để tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến của thế giới vào quá trình phát triển đất nước.

Một quốc gia không có đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ mạnh sẽ không thể tiếp thu hiệu quả các thành tựu tiên tiến của thế giới. Việc nhập khẩu máy móc hay công nghệ từ nước ngoài chỉ là bước ban đầu; điều quan trọng hơn là phải có đội ngũ chuyên gia đủ trình độ để vận hành, cải tiến và phát triển các công nghệ đó phù hợp với điều kiện trong nước. Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam sẽ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài và khó có thể phát triển bền vững.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Hành động quyết liệt với tầm nhìn dài hạn đối với nghiên cứu khoa học cơ bản

Hiện nay, Việt Nam đang thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao. Số lượng các chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực còn hạn chế, trong khi nhu cầu phát triển kinh tế và công nghiệp hóa đất nước ngày càng lớn. Nhiều lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học hay trí tuệ nhân tạo đều cần lực lượng nhân sự có trình độ chuyên môn sâu và khả năng nghiên cứu độc lập. Nghiên cứu cơ bản chính là môi trường tốt nhất để tạo ra nguồn nhân lực này. Thông qua hoạt động nghiên cứu cơ bản, các nhà khoa học trẻ được rèn luyện tư duy sáng tạo, kỹ năng phân tích và phương pháp giải quyết vấn đề. Đây là những năng lực cốt lõi giúp họ có thể tiếp cận và làm chủ các công nghệ hiện đại.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Hiện nay, Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới mức tăng trưởng GDP hai con số trong tương lai. Để đạt được mục tiêu này, khoa học và công nghệ phải trở thành động lực chính của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể thực hiện được khi đất nước có đủ đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao được hình thành qua các chương trình nghiên cứu cơ bản.

Hợp tác quốc tế để rút ngắn khoảng cách nghiên cứu cơ bản

Một khó khăn lớn để triển khai nghiên cứu cơ bản tại Việt Nam là sự thiếu hụt các phòng thí nghiệm hiện đại và đồng bộ. Nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ đòi hỏi các hệ thống thiết bị thí nghiệm rất đắt tiền, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phức tạp và nguồn kinh phí lớn để vận hành. Ví dụ, các nghiên cứu về vật lý hạt nhân cần những thiết bị hiện đại như máy gia tốc, lò phản ứng hạt nhân, hệ phổ kế chính xác cao và các hệ điện tử tiên tiến. Mặc dù trong những năm gần đây Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho khoa học và công nghệ, nhưng nhìn chung hệ thống phòng thí nghiệm của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu hiện đại. Nhiều thiết bị còn thiếu đồng bộ, khả năng cập nhật công nghệ mới còn chậm và kinh phí vận hành còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu cơ bản và khả năng đào tạo nhân lực trình độ cao.

Trong bối cảnh này, hợp tác quốc tế có thể là giải pháp hiệu quả và phù hợp nhất để phát triển nghiên cứu cơ bản của Việt Nam. Vấn đề này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu tại cuộc làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/5: “Đẩy mạnh hợp tác quốc tế có chọn lọc để nâng chuẩn nghiên cứu, đào tạo đội ngũ kế cận và rút ngắn khoảng cách tri thức”. Thông qua hợp tác với các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến, các nhà khoa học Việt Nam có cơ hội tiếp cận với các phòng thí nghiệm hiện đại, thiết bị tiên tiến và môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Nhiều quốc gia phát triển đã xây dựng các trung tâm nghiên cứu quy mô lớn phục vụ cộng đồng khoa học quốc tế. Các nhà khoa học từ nhiều nước có thể tham gia nghiên cứu, sử dụng thiết bị và hợp tác công bố kết quả khoa học. Đây là cơ hội để Việt Nam đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao mà không cần phải đầu tư ngay lập tức những cơ sở vật chất quá tốn kém.

Thông qua hợp tác quốc tế, các nhà khoa học Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu, tiếp cận phương pháp khoa học hiện đại và nâng cao trình độ chuyên môn. Đồng thời, việc tham gia các dự án quốc tế còn giúp xây dựng mạng lưới hợp tác khoa học rộng lớn, tăng khả năng công bố quốc tế và nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế. Một ví dụ điển hình là hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vật lý hạt nhân và năng lượng nguyên tử, giữa Chính phủ Việt Nam và Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân (LHNCHN) Đubna. Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna là một trung tâm khoa học quốc tế được thành lập bởi 18 nước thành viên vào năm 1956 tại thành phố Đubna, Liên bang Nga. Việt Nam là nước tham gia thành lập và là thành viên chính thức của tổ chức khoa học này. Mục tiêu của Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna là các nước thành viên cùng đóng góp kinh phí để xây dựng các phòng thí nghiệm chung hiện đại nhất để thực hiện nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực hạt nhân nguyên tử. Viện sở hữu nhiều thiết bị nghiên cứu hiện đại trong các lĩnh vực vật lý hạt nhân, vật lý năng lượng cao, khoa học vật liệu, công nghệ gia tốc, công nghệ sinh học,... Vì là thành viên chính thức của Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna, các cán bộ khoa học Việt Nam được quyền sử dụng các thiết bị nghiên cứu hiện đại như lò phản ứng hạt nhân xung IBR-2, các máy gia tốc hiện đại và các phổ kế tiên tiến tại Viện để tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu cấu trúc hạt nhân, phản ứng hạt nhân, vật liệu mới và các ứng dụng liên ngành mà Việt Nam cần, qua đó từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ và phát triển các hướng nghiên cứu chiến lược phục vụ khoa học và công nghệ quốc gia.

Việc khai thác hiệu quả hợp tác với Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna sẽ tạo điều kiện quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu cơ bản của Việt Nam, đặc biệt trong đào tạo nguồn nhân lực khoa học trình độ cao. Cho đến nay, nhiều cán bộ khoa học của Việt Nam đã trưởng thành từ Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna và trở thành các nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam như: Giáo sư Nguyễn Đình Tứ; Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu; Giáo sư, Viện sĩ Đặng Vũ Minh; Giáo sư Phạm Duy Hiển và rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng khác của Việt Nam. Trong tương lai, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường gửi cán bộ trẻ tới các trung tâm khoa học lớn trên thế giới, đồng thời, cần xây dựng cơ chế thuận lợi để thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào các chương trình nghiên cứu và đào tạo trong nước. Nếu có chiến lược đúng đắn và đầu tư phù hợp cho nghiên cứu cơ bản, Việt Nam sẽ từng bước xây dựng được đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ mạnh, tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế bền vững trong tương lai.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm, Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam