Trong bối cảnh khối lượng công việc lớn và yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, nhất là sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, ngành khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ngãi đã có những chuyển biến rõ nét nhờ sự chủ động, nỗ lực của tập thể Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ Sở, lãnh đạo Sở, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đồng chí Hồ Văn Niên, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, yêu cầu cần nghiêm túc nhìn nhận một số tồn tại, hạn chế. Cụ thể, nguồn nhân lực công nghệ thông tin và chuyển đổi số còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu; hạ tầng công nghệ thông tin ở cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; tiến độ xử lý một số thủ tục hành chính còn chậm. Việc tham mưu triển khai một số nhiệm vụ khoa học công nghệ gắn với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội chưa thật sự rõ nét. Công tác phối hợp giữa các ngành, địa phương trong triển khai chuyển đổi số có lúc còn thiếu đồng bộ. Hoạt động kết nối và chuyển giao công nghệ chưa hình thành được cơ chế hợp tác “3 bên” ổn định giữa Nhà nước-Nhà khoa học-Doanh nghiệp.
Đề cập nhiệm vụ thời gian tới, người đứng đầu Tỉnh ủy Quảng Ngãi đề nghị Đảng ủy, lãnh đạo Sở tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động vượt qua khó khăn về bộ máy, về cơ chế, tập trung rà soát, sắp xếp công việc khoa học, nâng cao hiệu quả phối hợp và ứng dụng công nghệ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Theo đó, thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy, từng đồng chí trong cấp ủy thực hiện nghiêm nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm toàn diện về lĩnh vực phụ trách. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và chú trọng phát triển đảng viên mới gắn với kiện toàn, bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng, bảo đảm đáp ứng yêu cầu tham mưu, lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đồng chí Hồ Văn Niên chỉ đạo: “Cần phải quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh có liên quan; xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của tỉnh. Phải đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý, tư duy điều hành theo hướng lấy dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng”.
Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW, đồng chí Hồ Văn Niên đề nghị Đảng ủy, lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ quán triệt sâu sắc tinh thần “6 rõ” (rõ người-rõ việc-rõ thời gian-rõ trách nhiệm-rõ sản phẩm-rõ thẩm quyền) trong mọi kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm 2026. Ưu tiên nguồn lực để giải quyết 5 “bài toán lớn” về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh năm 2026, gồm: xây dựng cơ sở dữ liệu tổng thể kinh tế-xã hội của tỉnh; xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển bền vững; ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số phát triển nông nghiệp xanh, bền vững; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) xây dựng cơ sở dữ liệu ngôn ngữ dân tộc thiểu số; ứng dụng hệ sinh thái du lịch thông minh.
Đồng thời, chủ động đề xuất danh mục các công nghệ chiến lược phù hợp với thế mạnh của tỉnh như: luyện kim, vật liệu mới và công nghệ sinh học để kêu gọi đầu tư và đặt hàng nghiên cứu trọng điểm. Song song đó, duy trì vận hành ổn định, hoạt động thông suốt và phát huy hiệu quả các hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu đã triển khai trên địa bàn tỉnh; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ thông tin, dữ liệu bí mật nhà nước. Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện và thực chất, trọng tâm là hoàn thiện hạ tầng số và nâng cấp trang thiết bị cho các cơ quan nhà nước, đặc biệt ưu tiên cho cấp xã vùng sâu, vùng xa để rút ngắn khoảng cách số. Tăng cường tích hợp, chia sẻ dữ liệu dùng chung và ứng dụng chữ ký số chuyên dùng trong toàn bộ hệ thống chính trị. Phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, khắc phục ngay việc ứng dụng AI còn chậm, khẩn trương đưa AI vào thực thi công vụ. Tiếp tục nâng cấp và lan tỏa phong trào “Bình dân học vụ số” trở thành hoạt động học tập kỹ năng số thường xuyên của toàn xã hội.
Tăng cường hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực của ngành cho đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở; chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin; phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý đề tài và nhiệm vụ khoa học công nghệ, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ và lấy hiệu quả sản phẩm đầu ra làm thước đo cao nhất. Trong đó, chủ động hướng dẫn các sở, ngành, địa phương đăng ký ít nhất 1 nhiệm vụ khoa học mỗi năm để giải quyết các vấn đề thực tiễn của ngành, đơn vị mình.
Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ cho các sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP và chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận của tỉnh. Kịp thời tham mưu phân bổ kinh phí chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có trọng tâm, trọng điểm, tránh trùng lặp, chồng chéo, lãng phí; tham mưu kiến nghị với các Bộ, ngành Trung ương quan tâm đề xuất, bố trí nguồn kinh phí chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định. “Nghiên cứu, đánh giá kỹ các điều kiện cần thiết (nhiệm vụ, cơ chế vận hành, nguồn lực tài chính, nhân lực quản lý) để tham mưu thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh”, đồng chí Hồ Văn Niên yêu cầu.
Theo đồng chí Nguyễn Tấn Liêm, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW ở Quảng Ngãi bước đầu đạt hiệu quả, tạo bước chuyển mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cụ thể, hạ tầng số phát triển mạnh mẽ; tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 85,56%; tỷ lệ số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 81,7% và tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu đạt tới 94,44%. Chuyển đổi số sâu rộng nhiều ngành, lĩnh vực: y tế (hồ sơ sức khỏe điện tử), giáo dục (học bạ điện tử) và nông nghiệp (hệ thống IoT cảnh báo lũ, truy xuất nguồn gốc tại 96 xã, phường), doanh nghiệp (250 sản phẩm được đưa lên các sàn thương mại điện tử và bắt đầu ứng dụng IoT trong sản xuất kinh doanh). Phong trào “Bình dân học vụ số” lan tỏa tới 96 xã, phường, thu hút hơn 1 triệu lượt người tham gia tập huấn kỹ năng số; đã kiện toàn 1.477 Tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 12.198 thành viên để “cầm tay chỉ việc” cho người dân.



