Chuyển đổi số cấp xã: Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, dữ liệu và nhân lực để đi vào thực chất
Chuyển đổi số cấp xã: Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, dữ liệu, nhân lực

Chuyển đổi số cấp xã: Tháo gỡ điểm nghẽn để đi vào thực chất

Thực tiễn triển khai tại nhiều địa phương cho thấy, nếu không kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, dữ liệu, hạ tầng và nhân lực ở cấp xã, phường, quá trình chuyển đổi số sẽ khó lòng đi vào thực chất. Đây không chỉ là bài toán công nghệ đơn thuần, mà còn là thước đo quan trọng đánh giá năng lực quản trị trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Ba điểm nghẽn cốt lõi tại cơ sở

Đại diện nhiều sở khoa học và công nghệ đã thẳng thắn chỉ ra rằng, những khó khăn trong triển khai chuyển đổi số ở cơ sở hiện nay không nằm ở một khâu đơn lẻ, mà tập trung vào ba điểm nghẽn cốt lõi. Thứ nhất, thể chế và cơ chế phối hợp giữa các cấp, ngành vẫn chưa thực sự đồng bộ và thống nhất. Thứ hai, hạ tầng công nghệ thông tin và dữ liệu còn trong tình trạng phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt là giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia với hệ thống hành chính công cấp tỉnh. Thứ ba, nhân lực thực thi, nhất là ở cấp xã, còn mỏng và chưa theo kịp yêu cầu mới trong bối cảnh phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hiện nay.

Trước thực tế hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng đều, đặc biệt tại các xã, phường sau sáp nhập, không ít địa phương vẫn gặp vướng mắc trong kết nối dữ liệu. Một số phần mềm, cơ sở dữ liệu cũ bị dôi dư hoặc phải tạm dừng hoạt động, gây gián đoạn đáng kể đến quy trình xử lý hồ sơ điện tử. Ngay cả tại các đô thị lớn như Đà Nẵng, nơi có điều kiện hạ tầng tốt hơn, quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng chưa hoàn toàn trơn tru. Khối lượng thủ tục hành chính lớn trong khi dữ liệu bàn giao chưa đầy đủ, cùng với việc tập huấn nghiệp vụ chưa theo kịp, đã khiến không ít cán bộ cơ sở rơi vào tình trạng lúng túng.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Thách thức từ địa bàn đặc thù và nhân lực

Ở nhiều tỉnh thành như Tây Ninh, Cần Thơ, Đắk Lắk, Lâm Đồng hay các tỉnh phía Bắc như Hưng Yên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Ninh, bộ máy tổ chức sau sắp xếp đã dần ổn định. Tuy nhiên, năng lực thực thi ở cấp xã vẫn được xem là khâu yếu, cần được tập trung củng cố. Cùng với đó, bài toán nhân lực tiếp tục là nút thắt lớn. Tại nhiều địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, chưa hình thành được đội ngũ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Không ít cán bộ cấp xã được giao thêm nhiệm vụ mới nhưng chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến tình trạng lúng túng khi xử lý các lĩnh vực có yêu cầu kỹ thuật cao.

Tỉnh Cao Bằng là một ví dụ điển hình. Dù mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vận hành cơ bản ổn định, song điều kiện địa bàn rộng, địa hình chia cắt, dân cư thưa với khoảng 95% là đồng bào dân tộc thiểu số, cùng những hạn chế về hạ tầng viễn thông, thiết bị công nghệ và tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh ở vùng sâu, vùng xa đã tác động trực tiếp đến tiến độ chuyển đổi số. Bà Nông Thị Thanh Huyền, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cao Bằng, chia sẻ: "Tình trạng phân cấp chưa thật rõ ràng và thiếu đầu mối chuyên trách tiếp tục là rào cản trong tổ chức thực hiện ở cơ sở."

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Giải pháp đồng bộ từ trung ương đến địa phương

Chuyển đổi số đã được xác định là một trong ba trụ cột đột phá phát triển đất nước theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, với khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện từ Trung ương đến cơ sở. Trong giai đoạn phát triển mới, khi dữ liệu và công nghệ trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện thể chế, mà phải tháo gỡ đồng bộ các rào cản về cơ chế, nguồn lực và năng lực thực thi ở cấp cơ sở.

Một trong những nút thắt lớn thời gian qua là cơ chế tài chính cho đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin. Việc ban hành Thông tư số 57/2025/TT-BKHCN do Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành được xem là bước điều chỉnh quan trọng, khi lần đầu tiên chuẩn hóa các nội dung chi theo toàn bộ vòng đời dự án công nghệ thông tin. Thông tư này áp dụng cho cả chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, đồng thời làm rõ cơ sở chi cho dữ liệu - coi dữ liệu là "tài sản" cốt lõi của quản trị số. Cách tiếp cận này giúp chính sách tiệm cận hơn với thực tiễn chuyển đổi số, tạo điều kiện để các dự án triển khai thông suốt và sử dụng ngân sách hiệu quả hơn.

Từ góc độ thực thi, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh yêu cầu thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm nguyên tắc "không ai bị bỏ lại phía sau". Khi hạ tầng băng rộng đã phủ tới hơn 99% số thôn, bản, trọng tâm hiện nay là phổ cập kỹ năng và công cụ số, đồng thời bảo đảm quyền riêng tư và an toàn dữ liệu để người dân khai thác hiệu quả nền tảng số.

Hướng đến vận hành hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp

Để thống nhất cách làm trên phạm vi toàn quốc, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-BKHCN, hợp nhất Thông tư số 21 và Thông tư số 11 về hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính. Qua đó, các hồ sơ điện tử, biểu mẫu điện tử và chữ ký số được chuẩn hóa, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được đồng bộ, đồng thời hình thành nền tảng theo dõi, đánh giá dựa trên dữ liệu thời gian thực.

Từ khảo sát thực tiễn, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm gồm:

  • Hoàn thiện hành lang pháp lý về phân cấp, phân quyền.
  • Xây dựng khung kiến trúc tổng thể quốc gia số để thống nhất chuẩn kết nối, chia sẻ dữ liệu.
  • Tăng cường đào tạo kỹ năng số cho cán bộ xã, phường theo hướng "thực chiến" và ưu tiên nguồn lực cho cấp cơ sở.

Khi thể chế được khơi thông, nguồn lực phân bổ đúng và năng lực thực thi được nâng cao, chuyển đổi số mới thật sự trở thành trụ cột cải cách, đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW từ chủ trương thành kết quả cụ thể, gắn với hiệu quả điều hành và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.