Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) diễn ra sáng ngày 1/6, ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ, đã cung cấp thông tin chi tiết về các nội dung liên quan đến công nghệ chiến lược. Trọng tâm là hai quyết định quan trọng được Thủ tướng Chính phủ ban hành, bao gồm Quyết định số 21 về danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, cùng Quyết định số 808 về giao nhiệm vụ phát triển các công nghệ này.
Nâng cao năng lực tự chủ, tạo động lực tăng trưởng mới
Ông Minh nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng khốc liệt, sự phát triển của một quốc gia không chỉ dựa vào vốn, lao động hay thị trường, mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng làm chủ công nghệ lõi và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Đối với Việt Nam, việc phát triển công nghệ chiến lược là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực tự chủ, tạo động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển thu nhập cao vào năm 2045. Trên tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21, thay thế Quyết định số 1131 trước đây.
“Đây là văn bản có ý nghĩa xác lập khung ưu tiên quốc gia về công nghệ chiến lược, làm căn cứ để các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học định hướng các hoạt động nghiên cứu, đầu tư phát triển sản phẩm, hình thành năng lực cạnh tranh công nghệ trong tương lai,” ông Minh cho biết.
Điểm mới của Quyết định số 21 là cách tiếp cận không chỉ dựa trên xu thế công nghệ thế giới mà xuất phát từ bài toán thực tiễn của quốc gia, nền kinh tế và từng ngành, lĩnh vực. Theo đó, việc lựa chọn công nghệ phải gắn liền với sản phẩm công nghệ chiến lược, cụ thể là công nghệ lõi cần làm chủ, chủ thể có năng lực triển khai và thị trường đầu ra. “Điều này giúp tránh tình trạng lựa chọn công nghệ theo phong trào hoặc đầu tư dàn trải nhưng không hình thành được sản phẩm và năng lực công nghệ có giá trị thực tế,” ông Minh nhấn mạnh.
Danh mục công nghệ chiến lược trong Quyết định 21 tập trung vào các nhóm công nghệ có khả năng tạo động lực lớn cho tăng trưởng, năng suất, cạnh tranh, quốc phòng, an ninh và tự chủ chiến lược. Các nhóm ưu tiên bao gồm: trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn, robot tự động hóa, công nghệ lượng tử, an ninh mạng, vi sinh tiên tiến, năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ hàng không vũ trụ và công nghệ đường sắt hiện đại.
Từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu
Tuy nhiên, ông Minh thừa nhận rằng việc ban hành danh mục mới chỉ là bước đầu. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nếu chỉ có danh mục ưu tiên mà thiếu các nhiệm vụ cụ thể, chủ thể triển khai, nguồn lực và cơ chế đánh giá đầu ra thì rất khó chuyển hóa định hướng chính sách thành năng lực công nghệ thực chất. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục ban hành Quyết định số 808, đánh dấu bước chuyển từ xác định ưu tiên sang tổ chức thực hiện, cụ thể hóa các mục tiêu định hướng.
“Nếu Quyết định số 21 trả lời câu hỏi: Việt Nam cần ưu tiên những công nghệ và sản phẩm nào? thì Quyết định 808 trả lời các ưu tiên đó cần được triển khai thông qua nhiệm vụ gì, gắn với bài toán nào, có sự tham gia của những chủ thể nào và hướng tới kết quả gì,” ông Minh chia sẻ. Điều này góp phần hình thành năng lực công nghệ nội sinh, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Một điểm mới trong Quyết định 808 là yêu cầu triển khai công nghệ chiến lược theo chuỗi, từ bài toán lớn, xác định sản phẩm, bóc tách công nghệ lõi, lựa chọn thực hiện đến xác định đầu ra, thị trường và đơn vị sử dụng. “Cách tiếp cận này giúp khắc phục tình trạng nghiên cứu khoa học tách rời nhu cầu thực tế, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và cơ quan quản lý cùng tham gia vào chuỗi thống nhất phát triển,” ông Minh cho hay.
Đối với Bộ KH&CN, Quyết định 808 giao trọng tâm vào các nhiệm vụ nền tảng nhằm nâng cao năng lực làm chủ công nghệ. Các nhiệm vụ bao gồm: phát triển hạ tầng tính toán và dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo, hình thành trung tâm nghiên cứu thử nghiệm và phòng thí nghiệm quốc gia cho công nghệ chiến lược; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tạo kết nối giữa doanh nghiệp và viện nghiên cứu, trường đại học; thúc đẩy sở hữu trí tuệ, xúc tiến thương mại hóa và kết nối đầu tư, hỗ trợ thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược.
“Các nhiệm vụ này đóng vai trò quan trọng vì năng lực tự chủ công nghệ không thể hình thành chỉ bằng một vài đề tài nghiên cứu riêng lẻ,” ông Minh nhấn mạnh. Ông cho rằng, muốn làm chủ công nghệ cần có hạ tầng nghiên cứu, hạ tầng dữ liệu, phòng thí nghiệm, trung tâm thử nghiệm, tiêu chuẩn kỹ thuật, nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp dẫn dắt thị trường. “Đây là những điều kiện nền để kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành sản phẩm, sản phẩm đi vào thị trường, và doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ sâu hơn, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu,” ông Minh chia sẻ.
Ông Minh cũng nhấn mạnh rằng hai quyết định này thể hiện tư duy huy động sức mạnh tổng hợp. “Công nghệ chiến lược không phải nhiệm vụ riêng của Bộ KH&CN. Bộ KH&CN giữ vai trò điều phối, hướng dẫn, kết nối và hoàn thiện cơ chế để kiến tạo hệ sinh thái. Các bộ, ngành là chủ thể xác định bài toán lớn trong phạm vi quản lý. Các địa phương xác định nhu cầu và không gian thực hiện. Doanh nghiệp giữ vai trò triển khai đầu tư, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp nền tảng tri thức, công nghệ lõi và nguồn nhân lực chất lượng cao,” ông Minh nói.
Nếu triển khai hiệu quả hai quyết định này trong tương lai, ông Minh đánh giá sẽ góp phần hình thành năng lực công nghệ nội sinh, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc nhập khẩu, tạo ra sản phẩm công nghệ có giá trị gia tăng cao và thúc đẩy các ngành công nghiệp mới dựa trên tri thức, dữ liệu, công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo. “Đây cũng là những nền tảng quan trọng để khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao vị thế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới,” ông Minh nhấn mạnh.



