Tư duy mới về tài sản trí tuệ trong cộng đồng sáng tạo Việt Nam
Tư duy mới về tài sản trí tuệ trong sáng tạo Việt

Để bảo đảm mục tiêu chiến lược, yêu cầu thay đổi căn bản tư duy về tài sản trí tuệ trong cộng đồng sáng tạo cần được ưu tiên.

Di sản của một thế hệ “phòng thủ”

Gần hai thập kỷ từ khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực, phần lớn cộng đồng sáng tạo Việt Nam, từ nhạc sĩ, ca sĩ, biên đạo đến đơn vị tổ chức biểu diễn, đã quen tiếp cận quyền tác giả và quyền liên quan dưới một lăng kính duy nhất: quyền cần được bảo vệ khỏi bị xâm phạm. Cách tiếp cận đó, nhìn bề ngoài tưởng cẩn trọng, thực chất lại là dạng bị động ăn sâu vào nếp nghĩ. Người sáng tạo chỉ thật sự nghĩ tới quyền của mình khi có hành vi xâm phạm xảy ra, như khi bản ghi bị tải lên nền tảng không thỏa thuận, bản phối dùng làm nhạc nền cho triệu video ngắn không ghi nguồn, hay buổi diễn bị livestream lén ngay trong đêm khai mạc. Phản ứng phổ biến vẫn dừng ở dòng trạng thái phẫn nộ trên mạng xã hội, hiếm khi đi tới quy trình thực thi quyền có chuẩn bị, dù pháp luật Việt Nam đã trao cho chủ thể quyền nhiều công cụ từ dân sự, hành chính đến hình sự đối với hành vi xâm phạm quy mô thương mại.

Hệ quả của cách tiếp cận phòng thủ nặng nề hơn nhiều so với người trong cuộc thừa nhận. Khi tác phẩm chỉ được nhìn như một thứ có nguy cơ bị mất, nó không bao giờ được định giá đúng nghĩa, không được ghi nhận như tài sản có thể chuyển nhượng, góp vốn, bảo đảm tín dụng hoặc đưa vào di sản thừa kế. Một bài hát thông thường, ngay khi phát hành, chứa ít nhất ba loại quyền pháp lý độc lập cho các chủ thể khác nhau: quyền tác giả với phần nhạc và lời, quyền của nhà sản xuất bản ghi, và quyền của người biểu diễn. Mỗi loại quyền có thể được phân tách theo phương thức khai thác, gồm quyền sao chép, truyền đạt tới công chúng, biểu diễn trước công chúng, cho thuê bản gốc hoặc bản sao, làm đồng bộ hóa, in ấn, làm tác phẩm phái sinh. Không nắm được cấu trúc nhiều tầng, chủ thể quyền dễ rơi vào hai cực bất lợi: hoặc ký hợp đồng “bán đứt” mơ hồ mất quyền kiểm soát, hoặc bỏ ngỏ quyền cho thị trường tự do khai thác không thu phí.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Thế hệ “kiến tạo” đã hình thành

Một sự dịch chuyển âm thầm đã bắt đầu, là chuyển động đáng kể nhất của giới sáng tạo Việt Nam trong thập niên qua. Không còn là “làm sao để bảo vệ tác phẩm khỏi bị mất”, câu hỏi cốt lõi của nghệ sĩ thế hệ mới đã chuyển sang: làm sao để tác phẩm sinh ra giá trị bền vững và hợp pháp ở Việt Nam cũng như thị trường ngoài lãnh thổ. Sự chuyển dịch thể hiện qua những hành vi cụ thể. Theo Cục Bản quyền tác giả, ngày càng nhiều tác giả chủ động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Cần nhấn mạnh rằng, theo pháp luật, quyền tác giả và quyền liên quan phát sinh tự động từ thời điểm tác phẩm được định hình, không phụ thuộc vào đăng ký. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký do Cục cấp có giá trị chứng cứ đặc biệt khi tranh chấp, vì nghĩa vụ chứng minh chuyển sang bên kia. Việc nhiều nghệ sĩ chủ động đi đăng ký trước khi đưa sản phẩm ra công chúng không phải hành vi thủ tục, mà là bước đi pháp lý có tính toán, thiết lập mốc thời gian không thể tranh cãi làm điểm tựa cho mọi giao dịch sau.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Bên cạnh đó, các hợp đồng cấp quyền dần được đàm phán có cấu trúc nhiều tầng. Ví dụ trong âm nhạc, thay vì chuyển nhượng toàn bộ quyền tài sản như các hợp đồng thế hệ trước, nghệ sĩ trẻ vận dụng cơ chế chuyển quyền sử dụng có điều kiện, phân tách quyền theo lãnh thổ, kênh phân phối, thời hạn, mục đích sử dụng, có hoặc không độc quyền. Một bản ghi có thể được cấp phép độc quyền cho nền tảng streaming trong nước, đồng thời cấp phép không độc quyền cho nền tảng ngắn dạng UGC ở thị trường khu vực, trong khi quyền đồng bộ hóa với hình ảnh trong quảng cáo và điện ảnh được giữ lại để đàm phán riêng. Cấu trúc ấy cho phép tối đa hóa dòng tiền mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát của chủ sở hữu.

Đáng chú ý, một bộ phận nghệ sĩ bắt đầu nhìn nhận quyền liên quan hình tượng cá nhân, gồm quyền nhân thân của người biểu diễn theo Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh theo Bộ luật Dân sự, như một thương hiệu có thể nhượng quyền có điều kiện. Ngôn ngữ thị giác sân khấu, cách phối khí đặc trưng, chi tiết tạo hình nhận diện đều được thiết kế có chủ đích để chuyển hóa thành sản phẩm phái sinh, thỏa thuận hợp tác thương hiệu, dự án hợp tác với điện ảnh, thời trang và du lịch văn hóa.

Theo dòng dịch chuyển tư duy về sở hữu trí tuệ trong công nghiệp văn hóa, một yêu cầu mới được đặt ra: chủ thể sáng tạo từ nay phải đồng thời là chủ thể kinh tế, hiểu cấu trúc quyền, biết định giá, đàm phán, biết khi nào tự khai thác và khi nào ủy thác qua tổ chức quản lý tập thể. Nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết 80, đóng vai trò kiến tạo bằng cách hoàn thiện thể chế và xây dựng hạ tầng số dùng chung. Nhưng kiến tạo dù tốt đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ vẫn nằm ở chỗ người sáng tạo có chủ động bước vào không gian mới hay không.

Hành trình cần tiếp tục

Sẽ là quá lạc quan nếu cho rằng cuộc dịch chuyển tư duy đã hoàn tất. Nhận thức về quyền tác giả và quyền liên quan trong cộng đồng sáng tạo Việt Nam vẫn chênh lệch lớn giữa các thế hệ, loại hình nghệ thuật, trung tâm đô thị và địa phương nơi nhiều giá trị văn hóa đặc sắc đang chờ khai mở đúng cách. Không gian số vừa mở ra cơ hội khai thác chưa từng có, vừa đặt người sáng tạo trước thách thức pháp lý phức tạp đến mức ngay cả quốc gia có nền công nghiệp văn hóa lâu đời cũng loay hoay tìm lời giải. Và bây giờ, làn sóng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang đặt lại từ gốc rễ những câu hỏi về tư cách tác giả, phạm vi ngoại lệ quyền tác giả khi tác phẩm bị đưa vào dữ liệu huấn luyện, cơ chế phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị mà người sáng tạo gốc không tham gia.

Sự chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ không thể và không nên là việc riêng của cộng đồng sáng tạo. Nó đòi hỏi sự đồng hành thực chất của cơ quan quản lý nhà nước trong cập nhật pháp luật và nâng cao năng lực thực thi, của doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trong xây dựng mô hình kinh doanh tôn trọng quyền tác giả, của các nền tảng số trong minh bạch hóa cơ chế phân chia lợi ích, và của công chúng thụ hưởng trong nhìn nhận lại thói quen tiêu dùng văn hóa. Mỗi mắt xích trong hệ sinh thái đều cần thay đổi cách nhìn về giá trị của một tác phẩm. Bởi chỉ khi mọi mắt xích cùng dịch chuyển, mục tiêu chiến lược của Nghị quyết 80 mới có thể thành hiện thực, tài sản trí tuệ của người Việt Nam thật sự trở thành tài sản. Khi đó, Việt Nam thật sự bước vào quỹ đạo của một quốc gia có sức mạnh mềm văn hóa xứng tầm.

Khi một thế hệ sáng tạo đặt câu hỏi khác về tài sản của mình, đồng thời các tổ chức quản lý quyền tác giả nâng cấp năng lực vận hành, các công ty quản lý nghệ sĩ chuyên nghiệp xuất hiện, các nền tảng phân phối nội dung số trong nước trưởng thành…, điều này không chỉ là sự lớn lên của một nhóm cá nhân xuất sắc. Nó là tín hiệu cho thấy cả một hệ sinh thái sáng tạo đang dần định hình theo những chuẩn mực mà các nền công nghiệp văn hóa thành công trên thế giới đã đi qua.

Tam Tran (Giám đốc IPCOM)