Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: Mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã cạn kiệt dư địa. Việt Nam buộc phải chuyển dịch sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phấn đấu từ một quốc gia gia công sản phẩm sang một quốc gia kiến tạo sản phẩm, chuyển từ Made in Vietnam sang Made by Vietnam.
Khoa học cơ bản – Nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia
Trong mô hình mới, khoa học cơ bản không còn được xem là lĩnh vực học thuật thuần túy, mà được định vị như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ. Khoa học cơ bản kiến tạo tri thức nền tảng để giải quyết các bài toán công nghệ lõi. Nếu không dựa trên nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, các công nghệ lõi sẽ nhanh chóng cạn kiệt dư địa phát triển và mất sức bền nội sinh. Do đó, ưu tiên không gian phát triển và tập trung nguồn lực đầu tư mạnh mẽ cho khoa học cơ bản là bước đi cốt lõi mang tính chiến lược. Điều này không chỉ nâng tầm vị thế khoa học và công nghệ quốc gia, mà còn góp phần hình thành đội ngũ nhà khoa học sở hữu tư duy và tầm nhìn đột phá.
Giáo sư Oren Harari (Đại học San Francisco, Hoa Kỳ) từng nói: “Bóng đèn điện không bao giờ ra đời từ việc không ngừng cải tiến những ngọn nến”. Trong mô hình phát triển mới, cần định vị lại vai trò của khoa học cơ bản trong mối quan hệ hữu cơ, gắn kết chặt chẽ với ba trụ cột: công nghệ chiến lược, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ.
Khoa học cơ bản là nguồn gốc của công nghệ chiến lược
Các công nghệ cốt lõi của cách mạng công nghiệp lần thứ tư như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học thế hệ mới, năng lượng xanh… không tự nhiên hình thành. Chúng là kết quả chuyển hóa từ các nghiên cứu cơ bản trong toán học, vật lý, hóa học, sinh học và khoa học trái đất. Khoa học cơ bản tạo ra “tri thức gốc” với các nguyên lý và phát minh mới. Nếu không có tri thức gốc, mọi hoạt động ứng dụng chỉ là sao chép, gia công và dễ bị thay thế. Khoa học cơ bản là nền móng cho đổi mới sáng tạo, là nguồn gốc của những công nghệ đột phá.
Khoa học cơ bản thúc đẩy đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ
Khoa học cơ bản tạo ra phát kiến mới, giúp doanh nghiệp phát triển sản phẩm độc quyền, hàm lượng chất xám cao và khó sao chép. Nó còn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao với tư duy đột phá, năng lực phản biện và giải quyết vấn đề triệt để. Khoa học cơ bản bảo đảm làm chủ công nghệ chiến lược. Một quốc gia không thể có chủ quyền kinh tế nếu phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ ngoại nhập. Cần nâng cao năng lực hấp thụ khoa học công nghệ. Muốn chuyển giao hay tiếp nhận công nghệ cao từ nước ngoài, nội lực khoa học trong nước phải đủ mạnh để hiểu, vận hành và làm chủ. Thiếu nền tảng khoa học cơ bản, chúng ta chỉ mua được máy móc (phần cứng) chứ không làm chủ được công nghệ (phần mềm/bí quyết). Ngoài ra, cần bảo đảm an ninh chiến lược trong các lĩnh vực nhạy cảm như an ninh mạng, quốc phòng, viễn thông. Năng lực tự chủ công nghệ dựa trên khoa học cơ bản là tấm khiên bảo vệ quốc gia trước biến động địa chính trị.
Chọn mũi nhọn đột phá để đầu tư
Trong bối cảnh nguồn lực quốc gia còn hạn chế, đầu tư dàn trải cho khoa học cơ bản là không khả thi. Việt Nam cần thực hiện phương châm “Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, chọn mũi nhọn đột phá”. Ưu tiên không phải là bỏ rơi các ngành khác, mà là tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực trọng yếu, nơi tạo đột phá sẽ kéo theo sự phát triển của toàn bộ hệ sinh thái công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Mục tiêu của các đề tài khoa học cơ bản không phải là thương mại hóa ngay, mà là tạo ra nguồn nhân lực xuất sắc và phát minh nền tảng làm bệ đỡ cho khoa học ứng dụng. Cần có tầm nhìn dài hạn (5-10-15 năm), chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo điều kiện cho các nhà khoa học theo đuổi nghiên cứu dài hạn và rủi ro cao.
Mới đây, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2555/QĐ-BKHCN phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (PEBR). Chương trình PEBR được kỳ vọng tạo bước chuyển đột phá trong đầu tư cho nghiên cứu cơ bản theo hướng dài hạn, trọng điểm, gắn với phát triển công nghệ chiến lược quốc gia.
Huy động nguồn lực từ doanh nghiệp
Nguồn ngân sách Nhà nước cần được ưu tiên phân bổ dưới hình thức đặt hàng các nhiệm vụ chiến lược cho trường đại học và viện nghiên cứu, giải quyết bài toán công nghệ trọng điểm gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Huy động nguồn lực tài chính tư nhân cũng rất quan trọng. Cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, tập đoàn lớn thành lập quỹ đầu tư cho nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng. Doanh nghiệp là cánh tay nối dài đưa tri thức từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Hiện nay, dù Nhà nước đã có nhiều chính sách thúc đẩy kết nối, khoảng cách giữa doanh nghiệp và cộng đồng khoa học vẫn còn lớn. Nhiều nghiên cứu bắt nguồn từ đề xuất chủ quan của nhà khoa học thay vì nhu cầu thị trường; ngược lại, doanh nghiệp chưa mặn mà đặt hàng trường đại học, thường ưu tiên nhập khẩu công nghệ nước ngoài. Thời gian gần đây, tình trạng này bước đầu được cải thiện khi cơ chế tuyển chọn đề tài từ ngân sách Nhà nước đã đề cao vai trò của doanh nghiệp trong việc ra đề bài và tiếp nhận sản phẩm.
Sứ mệnh kiến tạo tri thức nền tảng của trường đại học
Trong các chỉ đạo chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đặc biệt tại cuộc họp về nghiên cứu khoa học cơ bản và bài phát biểu tại Đại học Quốc gia Hà Nội tháng 5/2026, hệ thống trường đại học được định vị là “mắt xích trung tâm”, giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa và kiến tạo tri thức nền tảng cho công nghệ chiến lược. Tri thức và công nghệ cao xuất phát từ các nhà khoa học, phòng thí nghiệm của trường đại học, viện nghiên cứu. Giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong đào tạo nhân lực chất lượng cao và nền tảng khoa học cho công nghệ chiến lược. Ở các nước phát triển, thành tựu khoa học công nghệ từ trường đại học là rất lớn. Đội ngũ nghiên cứu trong trường đại học đóng góp quan trọng cho diện mạo khoa học quốc gia. Tầm quan trọng của chính sách thu hút nhân tài và đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu khoa học thể hiện rõ qua sự bứt phá của các trường đại học Mỹ giai đoạn hậu chiến tranh thế giới thứ hai. Nhờ đó, các trường đại học Hoa Kỳ vươn lên mạnh mẽ và đạt được bước phát triển đột phá. Hiện nay, Hoa Kỳ chiếm hơn 1/3 vị trí trong bảng xếp hạng 100 trường đại học hàng đầu thế giới.
Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã làm thay đổi căn bản nhận thức về vai trò của hệ thống đại học. Trường đại học không chỉ dừng lại ở truyền bá mà phải là nơi sản sinh tri thức mới, vận hành như các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia. Sản phẩm đầu ra của đại học nghiên cứu không chỉ là nhân lực chất lượng cao từ kỹ sư, cử nhân đến Tiến sĩ, mà còn là phát minh sáng chế và doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ do chính các nhà khoa học xây dựng và làm chủ.



