Trong cuộc trao đổi với báo Thanh Niên, luật sư Phan Vũ Tuấn - Văn phòng Luật sư Phan Law Vietnam, Phó chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ TP.HCM, đã đưa ra nhận định về vụ việc liên quan đến thương hiệu Vải áo dài Đất Lành. Theo ông, sự việc này là minh chứng rõ ràng cho thấy trí tuệ nhân tạo (AI) đã thực sự bắt đầu phát triển và được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Nhiều cá nhân và tổ chức đã đưa AI vào sử dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực sáng tạo và thời trang.
Quy định pháp luật về AI còn nhiều bất cập
Luật sư Tuấn cho biết, từ cuối năm 2025, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Trong đó, điểm đáng chú ý là quy định tại khoản 5 Điều 7 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành: “Tổ chức, cá nhân được sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện việc sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của luật này”.
Tuy nhiên, theo luật sư Phan Vũ Tuấn, quy định này mới chỉ bước đầu ghi nhận nhu cầu khai thác dữ liệu để phát triển AI, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được làm rõ. Thứ nhất, chưa có hướng dẫn cụ thể về thế nào là “ảnh hưởng bất hợp lý” đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền. “Sự chưa rõ ràng này có thể dẫn đến việc một số cá nhân, tổ chức cố tình hoặc vô ý hiểu rằng tác phẩm đã công bố thì có thể tự do đưa vào hệ thống AI để phân tích, thử nghiệm, huấn luyện. Trên thực tế, việc tác phẩm đã được công bố không đồng nghĩa với việc chủ sở hữu mất quyền kiểm soát đối với việc sao chép, làm tác phẩm phái sinh thông qua AI”, ông chia sẻ.
Thứ hai, không có cơ chế bảo đảm quyền từ chối của chủ sở hữu quyền. Theo luật sư Tuấn, trong bối cảnh AI, tác giả và chủ sở hữu quyền cần có khả năng thể hiện rõ việc không cho phép AI sử dụng tác phẩm của họ để thử nghiệm, huấn luyện. Nếu không, AI sẽ tự động thu thập dữ liệu gốc từ Internet mà chính chủ sở hữu quyền và người dùng AI cũng có thể không nhận ra. Nếu cơ chế này chưa được hướng dẫn cụ thể, việc cân bằng giữa phát triển công nghệ và bảo vệ quyền tác giả sẽ gặp nhiều khó khăn.
AI làm thay đổi cách thức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Luật sư Phan Vũ Tuấn cho biết AI đã làm thay đổi cách thức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Theo khoản 10 Điều 4 Luật SHTT, “sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”. Tuy nhiên, với công cụ AI, tác phẩm gốc có thể bị chỉnh màu, thay đổi bố cục, tạo ra nhiều biến thể khác nhau, khiến chủ sở hữu quyền khó chứng minh mối liên hệ giữa tác phẩm gốc và sản phẩm vi phạm. Trong nhiều trường hợp, cần đến kết quả giám định chuyên môn để so sánh bố cục, đường nét, màu sắc, họa tiết, chi tiết tạo hình và mức độ tương đồng giữa hai tác phẩm nhằm xác định hành vi sao chép.
Từ đó, luật sư Phan Vũ Tuấn cho rằng pháp luật cần văn bản hướng dẫn về AI để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu. Cụ thể, cần làm rõ tiêu chí “ảnh hưởng bất hợp lý” đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền, cơ chế từ chối sử dụng tác phẩm để huấn luyện AI, nghĩa vụ minh bạch dữ liệu đầu vào và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi sử dụng AI để tạo sản phẩm thương mại.
Phân biệt giữa tham khảo, lấy cảm hứng và sao chép trái phép
Cũng theo vị này, trong các tranh chấp liên quan đến AI, ranh giới giữa “tham khảo”, “lấy cảm hứng” và “sao chép trái phép” không được xác định chỉ dựa trên việc có sử dụng AI hay không. Vấn đề cốt lõi là AI hoặc người sử dụng AI có khai thác phần hình thức thể hiện cụ thể được bảo hộ của tác phẩm gốc hay chỉ tiếp nhận ý tưởng, phong cách, chủ đề chung để tạo ra một tác phẩm độc lập.
“Theo khoản 1 Điều 6 luật SHTT, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Điều này có nghĩa là pháp luật bảo hộ hình thức thể hiện cụ thể của tác phẩm, không bảo hộ thuần túy đối với ý tưởng, phong cách, cảm hứng, chủ đề hoặc phương pháp sáng tạo. Vì vậy, việc một cá nhân hoặc tổ chức lấy cảm hứng từ tinh thần, phong cách, màu sắc chung hoặc chủ đề của tác phẩm khác chưa đủ để kết luận là sao chép trái phép”, luật sư Phan Vũ Tuấn chỉ rõ.
Theo chuyên gia, trong bối cảnh AI, việc đưa tác phẩm gốc vào hệ thống AI có thể làm phát sinh hai vấn đề pháp lý riêng biệt. Thứ nhất là vấn đề sử dụng tác phẩm gốc để huấn luyện, thử nghiệm hoặc phát triển hệ thống AI. Thứ hai là vấn đề pháp lý đối với sản phẩm được tạo ra từ AI. Ông cho biết dựa vào vấn đề này, có thể phân định: “tham khảo”, “lấy cảm hứng” là tiếp nhận ý tưởng, cảm hứng, phong cách chung để tạo ra tác phẩm được định hình mới độc lập; “sao chép trái phép” là khai thác lại phần định hình cụ thể, nguyên gốc của tác phẩm đã được bảo hộ mà không được phép; còn “AI” chỉ là công cụ để thực hiện và phải tuân thủ theo quy định tại khoản 5 Điều 7 luật SHTT.
Rủi ro đối với nhà thiết kế và doanh nghiệp thời trang Việt Nam
Luật sư Phan Vũ Tuấn cho biết từ góc độ pháp lý, sự phát triển của AI đang đặt ra nhiều rủi ro mới đối với các nhà thiết kế và doanh nghiệp thời trang Việt Nam.
Thứ nhất, AI cho phép việc sao chép, biến đổi và phát tán thiết kế diễn ra nhanh chóng hơn, làm gia tăng nguy cơ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. AI cho phép người dùng nhanh chóng sao chép, chỉnh sửa hoặc tạo ra các thiết kế mới dựa trên những thiết kế đã tồn tại, làm mờ ranh giới giữa hoạt động sáng tạo hợp pháp và hành vi khai thác trái phép thành quả sáng tạo của người khác.
Thứ hai là tiềm tàng rủi ro về việc thiết kế bị sử dụng làm dữ liệu huấn luyện AI. “Nhiều hệ thống AI được đào tạo trên khối lượng dữ liệu khổng lồ thu thập từ Internet, có thể kể đến như: Hình ảnh lookbook sản phẩm, catalogue sản phẩm, nội dung từ website hoặc mạng xã hội của thương hiệu. Nếu các thiết kế được thu thập và sử dụng để huấn luyện AI mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền, doanh nghiệp có thể đối mặt với tình trạng các tài sản trí tuệ bị khai thác trái phép”, ông phân tích.
Thứ ba là khó khăn trong việc chứng minh hành vi xâm phạm. Luật sư chỉ rõ: “AI có khả năng tạo ra nhiều biến thể khác nhau từ cùng một thiết kế gốc, khiến sản phẩm vi phạm thường không còn giống hoàn toàn bản gốc. Trong quá trình xử lý tranh chấp, chủ thể quyền có thể gặp khó khăn khi chứng minh hành vi sao chép, mức độ sao chép giữa hai thiết kế. Điều này làm tiêu tốn đáng kể thời gian và tiền bạc, gia tăng chi phí giám định và thu thập chứng cứ”.
Thứ tư, việc ứng dụng AI trong ngành thời trang ngày càng phổ biến, từ khâu phác thảo ý tưởng, thiết kế họa tiết đến xây dựng bộ sưu tập hoàn chỉnh. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra những vấn đề pháp lý mới liên quan đến quyền tác giả, đặc biệt là việc xác định mức độ đóng góp sáng tạo của con người trong quá trình hình thành sản phẩm. Những khoảng trống pháp lý này có thể làm gia tăng các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và bảo vệ các thiết kế thời trang trong thời gian tới.
Cuối cùng, một hệ lụy đáng quan ngại khác là nguy cơ làm triệt tiêu động lực sáng tạo trong ngành thời trang. “Việc AI có thể tạo ra hoặc tái tạo các thiết kế tương tự trong thời gian ngắn khiến giá trị thương mại và lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm sáng tạo nguyên gốc có thể bị suy giảm. Trong trường hợp quyền và lợi ích của các nhà thiết kế không được bảo vệ một cách đầy đủ, họ có thể giảm động lực đầu tư cho hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của từng doanh nghiệp mà còn có thể tác động tiêu cực đến hệ sinh thái sáng tạo và sự phát triển bền vững của toàn ngành thời trang”, chuyên gia này phân tích.
Giải pháp cân bằng giữa phát triển AI và bảo vệ bản quyền
Từ đó, luật sư Phan Vũ Tuấn nhận định trong bối cảnh công nghệ AI phát triển nhanh như hiện tại, việc bổ sung quy định về ngoại lệ đối với hoạt động khai thác văn bản và dữ liệu (TDM) vào luật SHTT là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, quy định này phải đảm bảo quyền từ chối của chủ sở hữu quyền. Tác giả, chủ sở hữu quyền được quyền đưa ra khẳng định về việc không cho phép các hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc hệ thống máy học tương tự khác được quyền sử dụng các tác phẩm của họ để đưa vào quá trình nghiên cứu, huấn luyện và phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo.
“Do đó ngoại lệ này chỉ phát huy hiệu quả khi được xây dựng trên nguyên tắc cân bằng giữa quyền tiếp cận tri thức của cộng đồng và nhu cầu tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển công nghệ mới. Bởi chỉ khi giữ được sự cân bằng này, ngoại lệ TDM mới hỗ trợ AI phát triển mà không làm ảnh hưởng đến mục tiêu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”, ông nhìn nhận.



