Tiểu đoàn 1 Long An: Huyền thoại 12 chữ vàng và nỗi đau người ở lại
Tiểu đoàn 1 Long An: Huyền thoại và nỗi đau

Bộ Tư lệnh thành phố đã đề nghị Ban Chỉ đạo 515 tỉnh Tây Ninh phối hợp lấy mẫu ADN của thân nhân các liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Long An (tỉnh Tây Ninh), nhất là những trường hợp hy sinh trong giai đoạn 1965-1968 để xác định danh tính các liệt sĩ, trong đó có liệt sĩ Huỳnh Văn Quên. Đây là bước tiến quan trọng trong hành trình tìm lại tên tuổi cho những người đã khuất.

Huyền thoại 12 chữ vàng

Trong lịch sử cách mạng miền nam, có bốn địa phương tiêu biểu nhất về phong trào chiến tranh nhân dân: Bến Tre “Đồng khởi”; Củ Chi “Đất thép thành đồng”; Quảng Nam “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”; Long An “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”. Trong niềm tự hào của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Tây Ninh, có đóng góp của Tiểu đoàn 1 Long An (Tiểu đoàn 1), đơn vị từng đối đầu quân chủ lực của địch ở những vị trí, thời điểm khốc liệt nhất. Họ đã đi vào lịch sử với 12 chữ vàng: “Điều đâu đi đó, chỉ đâu đánh đó, đánh đâu thắng đó”.

Cựu chiến binh Nguyễn Đăng Văn kể: “Với cách đánh ‘cường tập’ và ‘kỳ tập’ hết sức táo bạo, tiểu đoàn đã tổ chức hàng loạt các trận đánh tiêu biểu như: Đồn Đức Lập, Mương Trám, lộ 9 Lương Hòa, Gò Đen, Láng Ven,... Chúng tôi nhớ mãi lối đánh xuất sắc, hiệu suất cao bằng chiến thuật ‘đánh bồi, đánh nhồi’ làm giặc khiếp sợ.” Tiểu đoàn 1 là lực lượng chính, đã đánh bại Sư đoàn 25 ngụy. Khi quân Mỹ vào miền nam, tiểu đoàn đi đầu đánh Mỹ sáng tạo, liên tục tiêu hao sinh lực địch, cầm chân các đơn vị Mỹ.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Trận cầu Chữ Y và sự hy sinh của Huỳnh Văn Quên

Xuân Mậu Thân năm 1968, tiểu đoàn là mũi nhọn tiến công vào sâu thành phố Sài Gòn, thực hiện trận đánh lớn bảy ngày đêm tại cầu Chữ Y, đối đầu với một lữ đoàn Mỹ. Họ diệt hàng trăm tên, bắn cháy 12 xe tăng, bốn máy bay, giữ vững trận địa cho đến khi có lệnh rút. Đây cũng là lúc đồng chí Huỳnh Văn Quên hy sinh. Không chỉ anh Quên, trong ký ức Mẹ Việt Nam Anh hùng Huỳnh Thị Bọt, sau khi chồng hy sinh, các con của mẹ “lớn lên đứa nào cho đi đứa đó”. Còn Mẹ Việt Nam Anh hùng Hồ Thị Rực khóc: “Con đi cứ đi chứ tui không có cản, nó tham gia Tiểu đoàn 1, hy sinh năm Mậu Thân cũng tại cầu Chữ Y”.

Lịch sử Tiểu đoàn 1 ghi: Đơn vị được thành lập năm 1960. Sau khi thành lập, tiểu đoàn đã lập công xuất sắc ở trận đánh tiêu diệt căn cứ huấn luyện biệt kích Mỹ tại Hiệp Hòa (huyện Đức Huệ, Long An cũ) vào đêm 23/11/1963, diệt hàng trăm tên địch, lần đầu tiên ở miền nam ta bắt sống bốn cố vấn Mỹ. Tuy nhiên, sau Mậu Thân năm 1968, Tiểu đoàn 1 tổn thất lớn nhưng ý chí kiên cường bám trụ giữ vững địa bàn trọng yếu, chính là thành tích để tiểu đoàn được phong tặng danh hiệu Anh hùng lần thứ nhất ngày 11/2/1970.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Từ mùa xuân 1975 đến nhiệm vụ quốc tế

Cựu chiến binh Nguyễn Đăng Văn kể: “Mùa xuân năm 1975, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đánh mở đường cho Đoàn 232 từ hướng tây nam tiến công vào Sài Gòn. Tôi lúc đó là liên lạc đại đội, đeo khẩu AK báng gấp và chiếc đài radio, cho nên đơn vị hành quân tác chiến đến đâu tôi đều biết tiến độ. Tính từ ngày 10 đến 26/4, Tiểu đoàn 1 đã diệt 30 đồn bốt, mở đường cho lực lượng cấp trên.” Sáng 30/4/1975, tiểu đoàn vượt cầu Chữ Y, “dấu chân của chúng tôi lại in lên chính nơi mà đơn vị đã đối đầu khốc liệt với quân Mỹ trong bảy ngày đêm trận Mậu Thân năm 1968, nơi các đồng đội tôi nằm xuống, trong đó có Huỳnh Văn Quên”.

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới tây nam, Tiểu đoàn 1 Long An là đơn vị có mặt đầu tiên trên tuyến biên giới (tháng 7/1977), phối hợp các lực lượng cấp trên, tiêu diệt nhiều tiểu đoàn chủ lực Khmer đỏ, góp phần giải phóng đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Giai đoạn này, tiểu đoàn được phong Anh hùng lần thứ hai ngày 20/12/1979. Chặng đường mới của Tiểu đoàn 1 Long An là 10 năm (1979-1989) hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Đây là giai đoạn tiểu đoàn được phong Anh hùng lần thứ ba ngày 25/1/1983. Ngoài ra, còn có bốn đồng chí được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; hàng trăm đồng chí khác được tặng danh hiệu dũng sĩ; hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ được tặng huân chương các loại.

Ký ức về đồng đội và nỗi đau người ở lại

Theo nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Nguyễn Văn Chuyển (Tư Chuyển), trong trận đánh Chợ Đào, tiểu đoàn quyết định đánh sập cầu Chợ Đào bằng 20 kg thuốc C4, nhưng khi đánh xong, hai đầu cầu vẫn còn. Lúc này, tiểu đoàn có ý định đánh sập một số cống trên lộ ngăn địch nhưng Chính trị viên Mười Lai cho dừng lại vì nếu phá cống thì nước mặn tràn vào ruộng, dân không cấy lúa được. Ông Tư Chuyển nhớ mãi hình ảnh đồng đội Đoàn Thế Thơ, quê ở Bắc Giang, làm liên lạc đại đội. Trong trận đánh ngày 12/4/1975, Thơ chiến đấu rất dũng cảm, diệt nhiều địch. Khi kết thúc trận đánh, Đại đội trưởng Mười Tâm ra lệnh rút quân thì bất ngờ một tên lính còn sống giương khẩu AR15 bắn trúng đùi trên của Thơ làm anh quỵ xuống. Đồng đội băng bó cấp cứu kịp thời, nhưng do vết thương nặng, mất nhiều máu nên chiều hôm đó Thơ đã hy sinh.

Trở lại cầu Chữ Y, nơi trận địa nóng bỏng năm xưa, ông Tư Chuyển thấy đường phố tấp nập người, ngược xuôi xe cộ và những tòa nhà cao vút tráng lệ khiến người cựu binh già choáng ngợp. Phía trên đầu ông là trời xanh, mây trắng và dưới đất là thành phố hòa bình. Bỗng ông Tư Chuyển nghe sâu thẳm trong tim vọng về câu hỏi: “Sao ngày vui mà vắng mặt nhiều người? Có phải đồng đội đang nằm ở Công viên Lê Thị Riêng thì linh thiêng cho tìm thấy?”.

Cũng như ông Chuyển, ông Văn và các cựu chiến binh Tiểu đoàn 1, dịp này cũng có một người phụ nữ mang theo lời hứa được gìn giữ suốt gần một đời người. Từ khi có thông tin tìm thấy hài cốt liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, đơn vị 962, Tiểu đoàn 1 Long An, bà Nguyễn Thị Lệ mới có điều kiện đi từ xã Vàm Cỏ (tỉnh Tây Ninh) đến Công viên Lê Thị Riêng để thắp hương cho các Anh hùng liệt sĩ. Bà Lệ mặc quần áo chỉnh tề, quàng chiếc khăn rằn, đội mũ tai bèo, tay run run nâng nén hương, khẽ cúi đầu trước các liệt sĩ, trong đó có chồng chưa cưới của mình. Bà đã chờ cả một đời, đau cả một đời với nỗi đau của người đang sống.