Kiến tạo tương lai Việt Nam phú cường: Từ tầm nhìn đến hành động quyết liệt
Kiến tạo tương lai Việt Nam phú cường: Tầm nhìn và hành động

Kiến tạo tương lai Việt Nam phú cường: Từ tầm nhìn đến hành động quyết liệt

Thay vì chỉ dự báo tương lai, chúng ta phải chủ động kiến tạo nên tương lai đó. Tuy nhiên, để định vị được tương lai đất nước một cách chính xác, đòi hỏi phải có tầm nhìn xa rộng, khả năng kiến tạo và phát triển hệ giá trị quốc gia, cùng với hoạch định thể chế và thực thi quyết sách chính trị mạnh mẽ. Mục tiêu là tạo ra sự bứt phá với gia tốc mới, đạt được những thành tựu phi thường, hiện thực hóa khát vọng phú cường trong những thập kỷ tới, tiếp nối những kỳ tích giữ nước và dựng nước của dân tộc qua các thế kỷ.

Tương lai không phải là sự kéo dài đơn thuần của quá khứ. Do đó, Việt Nam không thể bước vào thế kỷ XXI với mô hình phát triển của thế kỷ XX. Thay vào đó, cần kiến tạo một tầm nhìn mới, hệ giá trị mới và hệ động lực mới, dựa trên yêu cầu phát triển của những năm 30, 40 thế kỷ XXI. Đây là một sự chuyển hóa căn bản về tư duy, mô thức phát triển và cấu trúc xã hội, nhằm xây dựng một Việt Nam phú cường trong một thế giới đang biến đổi nhanh chóng.

Ba tầm nhìn chiến lược định hướng tương lai

Từ thực tiễn 40 năm đổi mới và bối cảnh thế giới hiện nay, có thể phác thảo ba tầm nhìn định hướng cho tương lai Việt Nam:

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram
  • Tầm nhìn dân tộc: Việt Nam phải trở thành một dân tộc văn hiến, trí tuệ, tự chủ và sánh vai với các cường quốc. Sứ mệnh này đã được xác lập từ tinh thần Đại hội VI (1986) và ngày càng được cụ thể hóa qua từng giai đoạn phát triển.
  • Tầm nhìn quốc gia: Việt Nam không thể là "quốc gia tiệm tiến", mà phải là quốc gia kiến tạo, dấn thân, đột phá, phát triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn. Mục tiêu là trở thành trung tâm trí tuệ - văn hóa - kinh tế xanh - xã hội nhân văn ở Đông Nam Á, đồng thời là điểm tựa cho hòa bình và phát triển bền vững của khu vực và thế giới.
  • Tầm nhìn quốc tế: Hình thành một "bản đồ chiến lược" đưa Việt Nam tới năm 2045, với một học thuyết phát triển mang dấu ấn Việt Nam, hệ giá trị quốc gia hài hòa giữa tính dân tộc, khoa học, hiện đại và nhân văn. Tóm lại, đó là quá trình Dân tộc hóa - Hiện đại hóa - Toàn cầu hóa.

Định vị chiến lược và kiến tạo hình mẫu quốc gia

Chúng ta phải định vị chiến lược đất nước từ yêu cầu của tương lai, không chỉ dựa vào vị thế quá khứ. Đây là một thách thức kép: một mặt đến từ những đòi hỏi của tương lai, mặt khác là những rủi ro tiềm ẩn từ quá khứ. Dân tộc Việt Nam cần kiến thiết một quốc gia phú cường, không chỉ giàu có về vật chất mà còn hùng mạnh về trí tuệ, bản lĩnh và văn hóa; phát triển toàn diện, có chiều sâu và mang bản sắc riêng.

Giai đoạn từ 2021 đến 2050 được dự báo là nhịp sóng phát triển thứ tư. Nếu giai đoạn đổi mới đầu tiên (1986-2021) là sự thức tỉnh về tư duy và chủ động hội nhập, thì 30 năm tới sẽ được định hình bởi những nỗ lực phi thường để đột phá về tầm nhìn chiến lược, trỗi dậy toàn diện, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Mục tiêu là xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc, với chiến lược cụ thể: dân giàu (thu nhập cao, phân phối công bằng), nước mạnh (tự chủ chiến lược), xã hội dân chủ - công bằng - văn minh, và Đảng vững mạnh.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Chuyển đổi mô hình phát triển và cải cách thể chế

Trên nền tảng hiện thực, cần chuyển mạnh từ xã hội tồn tại sang xã hội phát triển theo cơ cấu và hệ giá trị mới. Xây dựng nền kinh tế dựa trên trí tuệ sáng tạo, giá trị gia tăng cao và phát triển văn hóa đặc sắc. Đoạn tuyệt dần với mô hình cạnh tranh bằng lao động giá rẻ hay tài nguyên thô, xử lý hài hòa các mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, kinh tế và văn hóa.

Phát triển xanh và thích ứng thông minh trở thành yêu cầu sống còn, đặc biệt trước các thách thức như sa mạc hóa và nước biển dâng. Cần nắm bắt các mô hình kinh tế tri thức, kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn trong kỷ nguyên công nghệ mới.

Lịch sử cho thấy, thể chế đóng vai trò then chốt quyết định sự thành bại của quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam không thể phát triển bằng con đường đi tắt nếu không cải cách thể chế một cách căn cơ, hiện đại và sâu rộng. Cần đổi mới thể chế đồng bộ: pháp quyền, dân chủ hóa và quản trị hiện đại. Chuyển từ mô hình Nhà nước quản lý tất cả sang Nhà nước kiến tạo, tạo khuôn khổ pháp lý để khơi thông mọi động lực phát triển.

Sáu động lực chính cho phát triển phú cường

Để hiện thực hóa khát vọng phú cường, cần xây dựng và phát huy sáu động lực phát triển chủ yếu:

  1. Động lực căn bản: Con người Việt Nam là trung tâm, Nhân dân là chủ thể và động lực của phát triển, với đội ngũ tinh hoa bao gồm chính trị gia, kỹ trị gia, chiến lược gia, khoa học gia và doanh nhân.
  2. Động lực cốt lõi: Tư tưởng và văn hóa là nền tảng tinh thường, sức mạnh nội sinh quan trọng. Giáo dục và khoa học công nghệ là chìa khóa cho phát triển nhanh, bền vững và nhân văn.
  3. Động lực then chốt: Đổi mới hệ thống chính trị và thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự "của dân, do dân, vì dân", phòng chống tha hóa quyền lực và tham nhũng.
  4. Động lực trực tiếp: Khoa học - công nghệ và giáo dục đổi mới, thoát khỏi "văn hóa từ chương", hướng đến tự do tư duy và sáng tạo.
  5. Động lực quan trọng: Kinh tế nhà nước dẫn dắt, kinh tế tư nhân và kinh tế đối ngoại là những trụ cột phát triển, xây dựng thương hiệu quốc gia và nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu.
  6. Động lực chủ yếu: Đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng không gian đoàn kết đến mọi giai tầng xã hội, kiều bào và bạn bè quốc tế.

Trên hành trình phát triển, con người là gốc, Nhân dân là chủ thể, văn hóa là nền tảng, giáo dục và khoa học là động cơ, chính trị là yếu tố định hướng. Chỉ khi toàn dân tộc đoàn kết, hành động một cách toàn diện, thống nhất và dũng cảm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thì khát vọng phú cường mới có thể trở thành hiện thực, đưa Việt Nam cập bến thành công vào năm 2045.