Nhân viên an ninh siêu thị không có quyền tự ý khám xét khách hàng
Nhân viên an ninh siêu thị không được tự ý khám xét khách

Gần đây, mạng xã hội lan truyền bài đăng của một nữ khách hàng về việc bị hai người tự xưng là nhân viên an ninh của trung tâm thương mại Aeon Mall Long Biên chặn lại một cách thô bạo, yêu cầu lên ô tô vì nghi ăn cắp đồ. Sự việc thu hút sự quan tâm của dư luận, nhiều người đặt câu hỏi: Khi nghi ngờ khách hàng lấy cắp tài sản, nhân viên an ninh tại trung tâm thương mại có quyền giữ người, kiểm tra tư trang, áp giải hoặc yêu cầu khách hàng về phòng làm việc để xác minh hay không? Nếu việc kiểm tra, xác minh được thực hiện không đúng quy định, quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng sẽ được pháp luật bảo vệ như thế nào?

Có được tự ý kiểm tra đồ đạc của người khác khi nghi ngờ trộm cắp tài sản?

Trao đổi với phóng viên Dân trí, luật sư Trịnh Văn Dũng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết việc tự ý kiểm tra người hoặc lục soát túi xách, tư trang của người khác chỉ vì nghi ngờ họ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là sai. Hành vi này có thể xâm phạm nghiêm trọng đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự và nhân phẩm của công dân nếu không được thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự do pháp luật quy định.

Căn cứ khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc khám xét người chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, tài sản do phạm tội mà có hoặc các tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bên cạnh đó, Điều 194 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người thi hành lệnh khám xét phải công bố và giải thích lệnh khám xét cho người bị khám xét biết. Việc khám xét phải do người cùng giới thực hiện và có người cùng giới chứng kiến. Quá trình khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của người bị khám xét.

Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định, chẳng hạn khi bắt người phạm tội hoặc có căn cứ xác định người đó đang cất giấu vũ khí, hung khí, chứng cứ hoặc đồ vật liên quan đến vụ án, cơ quan có thẩm quyền mới được khám xét người mà không cần lệnh khám xét.

"Như vậy, quyền khám xét người không thuộc về cá nhân, tổ chức hoặc lực lượng bảo vệ, an ninh thông thường. Đây là biện pháp tố tụng chỉ được thực hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện, trình tự luật định", luật sư Dũng phân tích.

Do đó, việc cá nhân hoặc nhân viên bảo vệ tự ý yêu cầu kiểm tra người, lục soát túi xách, tư trang của người khác chỉ vì nghi ngờ có hành vi trộm cắp là trái quy định pháp luật. Trong trường hợp không được sự đồng ý của người bị kiểm tra hoặc không thuộc các trường hợp được pháp luật cho phép, hành vi này có thể bị xem là xâm phạm quyền nhân thân của công dân.

Nhân viên an ninh siêu thị có được tự ý giữ người, yêu cầu khách hàng về phòng làm việc?

Theo luật sư Dũng, đối với nhân viên bảo vệ hoặc an ninh tại các trung tâm thương mại, pháp luật không trao quyền bắt giữ người trong các trường hợp thông thường.

"Khi mới chỉ có nghi ngờ mà chưa có căn cứ xác định hành vi phạm tội, nhân viên an ninh không được sử dụng vũ lực, đe dọa, ép buộc hoặc thực hiện các hành vi khác nhằm buộc khách hàng phải đi theo về phòng làm việc để kiểm tra, xác minh", luật sư nói.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Trong trường hợp phát hiện người đang thực hiện hành vi trộm cắp và thuộc trường hợp phạm tội quả tang theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bất kỳ công dân nào cũng có quyền bắt giữ người phạm tội quả tang, và phải nhanh chóng giải người bị bắt đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc UBND gần nhất để xử lý theo thẩm quyền.

Tuy nhiên, luật sư nhấn mạnh, quyền bắt người phạm tội quả tang không đồng nghĩa với quyền tự ý thẩm vấn, khám xét, lấy lời khai, giam giữ hoặc giữ người trong thời gian dài tại phòng làm việc của doanh nghiệp.

Do đó, nếu nhân viên an ninh chỉ dựa trên sự nghi ngờ mà tự ý chặn người, ngăn cản khách hàng rời đi, lôi kéo, cưỡng ép về phòng làm việc hoặc giữ người trái với ý muốn của họ thì hành vi này có dấu hiệu xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân và có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.

Trong trường hợp người bị giữ trái pháp luật bị ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc phải chịu thiệt hại về vật chất, tinh thần, người thực hiện hành vi vi phạm và tổ chức quản lý liên quan còn có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự.

"Nhân viên an ninh không có quyền tự ý giữ người hoặc ép khách hàng về phòng làm việc chỉ dựa trên nghi ngờ trộm cắp tài sản. Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, biện pháp phù hợp là thông báo ngay cho cơ quan công an hoặc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo đúng trình tự luật định, thay vì tự ý áp dụng các biện pháp hạn chế quyền tự do của công dân", luật sư Dũng nêu quan điểm.

Tự ý khám xét đồ của người khác khi nghi ngờ trộm cắp có thể bị xử lý hình sự?

Theo luật sư, việc tự ý khám xét người, lục soát túi xách hoặc tư trang của người khác khi không có thẩm quyền không chỉ xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, mà trong một số trường hợp còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người bị kiểm tra.

Căn cứ Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác. Theo quy định, người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Trường hợp phạm tội có các tình tiết tăng nặng như thực hiện đối với nhiều người, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc sử dụng mạng xã hội, phương tiện điện tử để xúc phạm người khác thì có thể bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Đặc biệt, nếu hành vi gây hậu quả nghiêm trọng như khiến nạn nhân bị rối loạn tâm thần với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc dẫn đến việc nạn nhân tự sát thì mức hình phạt có thể lên tới 5 năm tù.

Theo luật sư Dũng, trong trường hợp cá nhân hoặc nhân viên an ninh tự ý lục soát người khác, đồng thời có hành vi ép buộc, bêu xấu, công khai cáo buộc hành vi trộm cắp trước đám đông hoặc thực hiện các hành vi khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người bị nghi ngờ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét dấu hiệu của tội làm nhục người khác nếu đủ căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên, việc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi, hậu quả thực tế xảy ra cũng như kết quả đánh giá, xác minh của cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể.

Ngoài ra, nếu nhân viên an ninh có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật thì còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Bên cạnh đó, trường hợp có hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì người vi phạm còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.