Án lệ 75/2025: Thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản được TAND Tối cao xác định
Án lệ 75/2025: Thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản

Án lệ 75/2025: Thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản được TAND Tối cao xác định

Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao vừa xác định Án lệ số 75/2025, tập trung vào vấn đề “thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản”. Án lệ này được rút ra từ một vụ án cụ thể xảy ra tại Đà Nẵng, liên quan đến bị cáo Hong Chun K., một công dân Hàn Quốc, với hành vi chiếm đoạt tài sản thông qua thủ đoạn lừa dối tinh vi.

Diễn biến vụ án tại Đà Nẵng

Theo bản án của TAND Cấp cao (cũ) tại Đà Nẵng, tình huống phát sinh khi chủ sở hữu tài sản không trực tiếp trông coi hoặc quản lý tài sản của mình, đồng thời cũng không giao nhiệm vụ này cho bất kỳ ai. Trong trường hợp này, bị cáo đã sử dụng thủ đoạn gian dối bằng cách đưa ra các thông tin sai lệch, khiến một người không được ủy quyền tin rằng bị cáo là người thân quen của chủ sở hữu, từ đó giao tài sản và bị chiếm đoạt.

Cụ thể, vào đêm ngày 19/2/2021, bị cáo Hong Chun K. đi bộ đến một quán Bar ở Đà Nẵng và gặp đồng hương là ông Kang Chan J., hai người chào nhau qua cái gật đầu. Sau đó, bị cáo K. nhìn vào trong quán, thấy chị Trần Thị Bích N. đang ngồi nói chuyện với một nhóm bạn. Bị cáo đã tiếp cận và ra hiệu yêu cầu lấy túi xách cho ông Kang Chan J. Chị N., do nhầm tưởng Hong Chun K. là bạn của ông Kang Chan J., đã lấy chiếc túi xách đang để trên bàn và đưa cho K.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bị cáo sau đó chiếm đoạt chiếc túi xách, bên trong có tiền mặt, điện thoại di động và các vật dụng khác, với tổng trị giá lên đến 7,6 triệu đồng. Cơ quan tiến hành tố tụng tại Đà Nẵng ban đầu cáo buộc hành vi của Hong Chun K. là trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, khi Viện kiểm sát ra cáo trạng, TAND TP Đà Nẵng lại cho rằng ông K. đã gian dối để lấy được chiếc ví, do đó phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Tranh chấp pháp lý và quá trình xét xử

Trong khi đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm, tiếp tục truy tố ông K. về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 26/9/2021, TAND TP Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm, khẳng định quan điểm rằng K. phạm tội lừa đảo và tuyên án 12 tháng tù, đồng thời áp dụng hình phạt trục xuất sau khi chấp hành xong án phạt.

Hơn 10 ngày sau khi tuyên án sơ thẩm, Viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng đã ra quyết định kháng nghị. Trong đó, nhận định hành vi của bị cáo Hong Chun K. thực chất là phạm tội “Trộm cắp tài sản”, trong khi Tòa án cấp sơ thẩm lại xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, điều này được cho là không đúng tội danh. Kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng thay đổi tội danh cho bị cáo. Cùng thời điểm, ngày 11/10/2021, bị cáo Hong Chun K. cũng nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm

Ngày 9/12/2021, TAND cấp cao (cũ) tại Đà Nẵng tiến hành xét xử phúc thẩm. Tòa án nhận thấy rằng, lời khai của ông Kang Chan J. cho thấy khi ông ra khỏi quán Bar để nói chuyện với bạn, ông vẫn để túi xách tại bàn và không giao cho ai quản lý. Lời khai này hoàn toàn phù hợp với lời khai của chị N., người khẳng định ông để túi xách tại nơi ăn uống và không giao cho chị quản lý. Việc chị N. giao túi xách cho bị cáo chỉ xuất phát từ sự nhầm tưởng rằng Hong Chun K. là bạn của ông Chan J.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Chị N. khai rằng: “Một người đàn ông Hàn Quốc đến bảo đưa bóp và điện thoại... tôi tin tưởng là bạn của ông J. nên đã đưa cái ví da cho người này.” Lời khai của những người cùng bàn ăn uống với ông Kang Chan J. cũng xác nhận ông không giao cho ai quản lý túi xách. Do đó, chị Trần Thị Bích N. và những người cùng bàn không phải là người quản lý hợp pháp túi xách của ông J.

Theo phân tích của cơ quan tố tụng, bị cáo Hong Chun K. đã sử dụng thông tin gian dối và công khai chiếm đoạt, chẳng hạn như hỏi mọi người “cái bóp và điện thoại của người Hàn Quốc đâu”. Khi chị N. hỏi lại có phải túi xách của ông Kang Chan J. không, bị cáo ra hiệu đồng ý, khiến chị N. tin tưởng và giao túi xách. Tuy nhiên, vì chị N. không phải chủ sở hữu hoặc người quản lý túi xách, đây chỉ là thủ đoạn để bị cáo thực hiện ý định chiếm đoạt. Quan trọng hơn, khi chị N. giao túi xách, chủ tài sản là ông J. không hề biết mình bị lừa dối, do đó hành vi của Hong Chun K. không thể coi là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.

Cơ quan tố tụng nhấn mạnh, bị cáo Hong Chun K. đã lợi dụng lúc ông Kang Chan J. ở nơi khác, tận dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt. Khi bị cáo thực hiện hành vi, ông J. hoàn toàn không hay biết, và chỉ đến sáng hôm sau, nạn nhân mới phát hiện mình bị mất tài sản. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện KSND TP Đà Nẵng xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ xác đáng.

Tòa án cấp phúc thẩm kết luận rằng, việc Tòa sơ thẩm kết án bị cáo Hong Chun K. về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không phù hợp với hành vi phạm tội và không đúng pháp luật. Do đó, Tòa đã chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát, chuyển tội danh và xét xử bị cáo Hong Chun K. về tội “Trộm cắp tài sản”. Xét đến nhân thân xấu của bị cáo, cùng với tính chất nghiêm trọng của vụ án và mức độ hành vi, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giữ nguyên mức án 12 tháng tù, đồng thời không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của K.

Án lệ này không chỉ làm rõ sự khác biệt giữa hai tội danh trộm cắp và lừa đảo, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định đúng bản chất hành vi phạm tội trong các vụ án hình sự, đảm bảo công lý được thực thi một cách chính xác và công bằng.