Việc kiểm soát nợ công hiệu quả không chỉ giúp Việt Nam cải thiện điểm số trong các khung đánh giá về minh bạch, quản trị và thể chế, mà còn tạo cơ hội để đất nước nhanh chóng tiệm cận các thông lệ quốc tế tốt, từ đó tác động tích cực đến việc nâng hạng tín nhiệm quốc gia.
Nợ công được kiểm soát trong giới hạn cho phép
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong bốn tháng đầu năm 2026, tổng vốn vay của Chính phủ đạt 132.641 tỷ đồng, tương đương 13,7% kế hoạch năm. Trong khi đó, tổng nghĩa vụ trả nợ lũy kế đạt 172.865 tỷ đồng. Sự chênh lệch lớn giữa quy mô vay và nghĩa vụ trả nợ trong giai đoạn đầu năm phản ánh áp lực tài khóa, nhưng các chỉ tiêu an toàn nợ công vẫn được đánh giá nằm trong giới hạn cho phép.
Tổng hợp cả nguồn vay trong và ngoài nước, trong tháng 4/2026, Chính phủ đã huy động khoảng 46.247 tỷ đồng. Bộ Tài chính cho biết phần lớn nguồn vốn này, khoảng 45.833 tỷ đồng, được vay cho ngân sách trung ương, trong khi 414 tỷ đồng còn lại phục vụ cho vay lại. Tính từ đầu năm 2026, tổng vay trong và ngoài nước đạt 132.641 tỷ đồng, tương đương 13,7% kế hoạch năm.
Về nghĩa vụ trả nợ, trong tháng 4, tổng số tiền trả nợ của Chính phủ đạt khoảng 32.111 tỷ đồng. Lũy kế bốn tháng, tổng nghĩa vụ trả nợ đạt 172.865 tỷ đồng, tương đương 32,5% kế hoạch. Cơ cấu bao gồm 163.982 tỷ đồng trả nợ trực tiếp và 8.883 tỷ đồng từ các khoản cho vay lại.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, các chỉ tiêu an toàn nợ công tiếp tục được kiểm soát trong giới hạn cho phép. Cụ thể, tỷ lệ nợ công so với GDP dự kiến ở mức 35-36%, thấp hơn đáng kể so với trần 60%. Nợ Chính phủ khoảng 33-34% GDP so với ngưỡng 50%, còn nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 28-29% GDP, cũng dưới trần 50%. Đặc biệt, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước ở mức 20-21%, nằm trong giới hạn 25%. Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ chỉ khoảng 4-5%, thấp hơn nhiều so với ngưỡng cảnh báo 25%.
Từ góc độ cơ quan phân tích độc lập, Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating) đánh giá Việt Nam đang ở nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu trong khu vực cũng như trên thế giới. Các chỉ tiêu tài khóa quan trọng như bội chi ngân sách, nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài đều nằm trong giới hạn cho phép, góp phần nâng cao độ tin cậy và an toàn tài chính quốc gia.
Ông Lê Tự Quốc Hưng, Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, nhận định GDP của Việt Nam duy trì tăng trưởng ở mức cao, giúp cải thiện tỷ lệ nợ công so với GDP. Ngoài ra, tốc độ tăng nợ công thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP, giúp tỷ lệ nợ công/GDP giảm dần. Chính phủ kiểm soát chi tiêu hiệu quả, giữ bội chi ngân sách ở mức hợp lý. Tỷ lệ nợ công thấp mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, tạo không gian cho chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động.
Hiệu quả chưa tương xứng nguồn lực đầu tư
Đánh giá về công tác quản lý, sử dụng vốn giai đoạn 2021-2025, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi nêu rõ do tiến độ giải ngân chưa đáp ứng yêu cầu, số chuyển nguồn lớn, nhất là các dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đạt thấp; tỷ lệ giải ngân vốn nước ngoài hằng năm bình quân khoảng 52,7%, thấp hơn nhiều mục tiêu tại Nghị quyết số 29/2021/QH15 (trên 90%). Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) giai đoạn 2021-2025 vẫn ở mức 6,4, cho thấy hiệu quả đầu tư chưa cao, chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư.
Ông Phan Văn Mãi cũng chỉ ra việc thực hiện định hướng lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt huy động các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước, đẩy mạnh hợp tác công tư trong phát triển hạ tầng chiến lược chưa thật sự thành công. Số lượng dự án PPP còn ít, có dự án dự tính sử dụng nguồn lực PPP những năm đầu nhiệm kỳ không thực hiện được, phải chuyển sang đầu tư bằng ngân sách nhà nước, làm gia tăng gánh nặng cho cân đối ngân sách.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam không có con đường nào khác ngoài duy trì tăng trưởng kinh tế cao, đi đôi với phát triển bền vững. Về hệ số ICOR, ông thẳng thắn nhận định đây là chỉ tiêu còn cao so với nhiều nước trong khu vực, phản ánh hiệu quả đầu tư chưa tương xứng. Giải pháp then chốt là lựa chọn dự án đầu tư thật sự hiệu quả, tập trung nguồn lực cho các công trình trọng tâm, trọng điểm, giảm số lượng dự án, nâng cao chất lượng chuẩn bị và tổ chức thực hiện; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp và nền kinh tế.
Đẩy mạnh cải cách, tạo nền tảng tăng trưởng
Nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia là mục tiêu quan trọng trong Quyết định số 460/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược nợ công đến năm 2030. Với Việt Nam, điều này không chỉ hướng đến thay đổi thứ hạng, mà gắn trực tiếp với khả năng huy động nguồn lực cho tăng trưởng, cải thiện chi phí vốn, mở rộng dư địa tiếp cận thị trường tài chính và củng cố nền tảng phát triển dài hạn.
Ngày 4/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody's đã nâng triển vọng của Việt Nam từ mức Ổn định lên Tích cực, khẳng định xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Ba2. Điều này phản ánh niềm tin của Moody's vào khả năng cải thiện hồ sơ tín nhiệm của Việt Nam trong trung hạn. Theo Moody's, chất lượng thể chế và quản trị của Việt Nam đang được cải thiện rõ rệt thông qua cải cách thủ tục hành chính, pháp luật và khu vực công được thực hiện từ cuối năm 2024. Tiến trình cải cách đang dần mang lại kết quả bước đầu, việc tái cấu trúc giảm bớt các tầng nấc hành chính, sáp nhập bộ ngành và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, qua đó nâng cao hiệu quả quy trình phê duyệt dự án và thủ tục quản lý, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và giảm thiểu rủi ro, củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tại buổi làm việc với Moody's cuối tháng 4, Thứ trưởng Tài chính Trần Quốc Phương khẳng định Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì kỷ luật tài khóa và đẩy mạnh cải cách thể chế nhằm tạo nền tảng bền vững cho tăng trưởng. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030 được xác định là định hướng quan trọng, đi cùng với yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. Chính phủ sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế trong và ngoài nước, chủ động điều hành chính sách tài khóa linh hoạt, kiên định mục tiêu tăng trưởng gắn với ổn định vĩ mô.
Moody's đánh giá Việt Nam có khả năng chống chịu trước các cú sốc về giá năng lượng, chi phí vận chuyển và áp lực lạm phát do ảnh hưởng từ diễn biến địa chính trị nhờ nền tảng tăng trưởng vững chắc, bộ đệm kinh tế đối ngoại mạnh mẽ, rủi ro ngoại tệ thấp, cơ cấu năng lượng và xuất khẩu đa dạng. Tuy nhiên, Moody's cũng lưu ý các vấn đề rủi ro của hệ thống ngân hàng, thị trường bất động sản và tồn tại về thể chế dù đã được cải thiện nhiều, nhưng vẫn có thể cản trở khả năng nâng hạng tín nhiệm.
Thứ trưởng Trần Quốc Phương nhấn mạnh việc Việt Nam là quốc gia duy nhất được Moody's nâng triển vọng lên Tích cực trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC) thể hiện sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế về các nỗ lực chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước trong ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách sâu rộng hệ thống thể chế. Đây là tiền đề cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số, chuyển đổi mô hình tăng trưởng lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn; huy động, khơi thông và giải phóng nhanh mọi nguồn lực xã hội.
Theo báo cáo tài khóa công bố giữa tháng 4/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công thế giới đã lên tới gần 94% GDP trong năm 2025 và có thể vượt 100% GDP vào năm 2029. Những bất ổn địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông, được nhận định sẽ tiếp tục gây áp lực lên chi phí năng lượng, lương thực và ngân sách quốc phòng, làm gia tăng rủi ro đối với triển vọng tài khóa toàn cầu. Trong kịch bản xấu hơn, nợ toàn cầu có thể vượt 117% GDP. Tuy nhiên, theo IMF, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam dự báo sẽ ở mức 37,1% trong năm 2030.



