Mất biên lai nộp tiền đất từ 30 năm trước
Nhiều năm hành nghề trong lĩnh vực đất đai, luật sư Quách Thành Lực (Đoàn luật sư TP Hà Nội) cho biết từng gặp nhiều trường hợp đặc biệt là người dân ở khu vực nông thôn không thể làm sổ đỏ chỉ vì làm mất biên lai nộp tiền từ hàng chục năm trước. Phần lớn các trường hợp này liên quan đến đất được thôn, xã hoặc hợp tác xã giao trái thẩm quyền. Người dân đã nộp đủ tiền khi nhận đất, cầm trong tay phiếu thu của các cơ quan này nhưng do không còn giữ được chứng từ nên gặp khó khăn trong việc chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
Trường hợp ông A. ở Hà Nội: 10 năm kiên trì vẫn chưa có sổ đỏ
Chia sẻ một trường hợp thực tế, luật sư cho biết cuối năm ngoái, ông A. (Hà Nội) tìm đến nhờ tư vấn sau hơn 10 năm kiên trì gõ cửa nhiều cơ quan chức năng nhưng vẫn chưa thể cầm trên tay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất gia đình đang sinh sống. Theo lời ông A., thửa đất gia đình ông đang sử dụng là một trong 18 lô đất được địa phương giao trái thẩm quyền cho người dân từ những năm 1990. Các hộ dân nhận đất cùng thời điểm đều đã được cấp sổ đỏ. Riêng trường hợp của ông A., dù hồ sơ đã được giải quyết và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông vẫn không dám đến nhận vì cơ quan thuế ban hành quyết định yêu cầu gia đình phải nộp khoảng 5,3 tỷ đồng tiền sử dụng đất.
Người đàn ông cho biết, các hộ dân nhận đất cùng thời điểm đều còn lưu giữ biên lai, chứng từ chứng minh đã nộp tiền cho UBND cấp xã khi được giao đất. Riêng gia đình ông, do nhiều lần chuyển nơi ở, các giấy tờ quan trọng, trong đó có phiếu thu và biên lai nộp tiền, đã bị thất lạc từ nhiều năm trước.
Quy định pháp luật và số tiền thuế 5,3 tỷ đồng
Theo quy định pháp luật đất đai hiện hành, người dân không có giấy tờ, biên lai chứng minh việc mình đã nộp tiền để được giao đất trái thẩm quyền thì phải nộp 100% tiền thuế đất. Khi thực hiện thủ tục cấp sổ đỏ, cơ quan chức năng xác định ông A. không có hóa đơn, giấy tờ chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính nên phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định hiện hành. Năm 2017, cơ quan thuế xác định số tiền phải nộp đối với thửa đất này lên tới 5,3 tỷ đồng. Số tiền thuế đất quá lớn khiến người đàn ông không dám đến nhận sổ đỏ.
Ông A. tìm đến luật sư sau khi đã nhiều lần gửi đơn khiếu nại, kiến nghị đến các cơ quan chức năng nhưng vụ việc vẫn không được giải quyết dứt điểm. Trong khi các hộ dân nhận đất cùng thời điểm đã được cấp sổ đỏ, xây dựng nhà ở hoặc chuyển nhượng cho người khác, gia đình ông A. vẫn phải sinh sống trên thửa đất không có giấy tờ.
Nỗ lực thu thập tài liệu chứng minh đã nộp tiền
Không chấp nhận việc phải nộp khoản tiền sử dụng đất lên tới hàng tỷ đồng chỉ vì làm mất biên lai, ông A. liên tục gửi đơn khiếu nại đến nhiều cơ quan chức năng. Đồng thời, người đàn ông cũng thu thập nhiều tài liệu để chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, trong đó có xác nhận của các hộ dân mua đất cùng thời điểm, những người liên quan đến việc giao đất trước đây và các giấy tờ có liên quan khác. Dù vậy, khi gửi đơn khiếu nại tới cơ quan chức năng, ông A. đều nhận được câu trả lời "không đủ điều kiện để miễn tiền sử dụng đất".
Thay đổi pháp luật: Nghị định 103/2024 mở rộng giấy tờ chứng minh
Luật sư cho biết, trước đây Điều 8 Thông tư 76/2014 của Bộ Tài chính quy định người dân có thể chứng minh việc đã nộp tiền khi được giao đất trái thẩm quyền bằng các loại giấy tờ như biên lai, phiếu thu hoặc các tài liệu khác thể hiện đã nộp tiền cho người giao đất trái thẩm quyền hoặc UBND cấp xã để được nhận đất. Đối chiếu với trường hợp của ông A., mặc dù người đàn ông không còn biên lai, phiếu thu hay hóa đơn nộp tiền, song ông có rất nhiều loại giấy tờ khác là các xác nhận từ các cá nhân, tổ chức liên quan chứng minh việc đã thực hiện nghĩa vụ tài chính khi được giao đất. Theo luật sư, khi đó luật quy định không rõ ràng, không cụ thể. Do đó khi cơ quan chức năng giải quyết thường lựa chọn phương án thận trọng. Nếu chấp nhận các loại giấy tờ không có tên theo quy định để miễn nghĩa vụ tài chính, họ có thể đối mặt với rủi ro làm thất thu ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, luật sư Lực cho biết, pháp luật hiện hành đã có nhiều thay đổi theo hướng cởi mở và cụ thể hơn. Điều 12 Nghị định 103/2024 quy định chi tiết về tiền sử dụng đất đã mở rộng các loại giấy tờ chứng minh việc người dân đã nộp tiền để được sử dụng đất. Ngoài biên lai, hóa đơn, chứng từ, quy định còn xem xét nhiều tài liệu khác nếu thể hiện được việc người dân đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Đặc biệt, hồ sơ còn lưu trữ tại địa phương hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người dân đã nộp tiền để được giao đất là căn cứ quan trọng trong quá trình xem xét giải quyết hồ sơ.
Lập luận của luật sư: Khó có chuyện chỉ thu tiền 17 hộ
Luật sư lập luận, lô đất của ông A. nằm trong nhóm 18 thửa đất được giao cùng thời điểm. Trên thực tế, khó có chuyện chính quyền giao đất cho 18 hộ dân nhưng chỉ thu tiền của 17 hộ, còn một hộ không phải nộp tiền. Bên cạnh đó, hồ sơ của ông A. còn có nhiều tài liệu xác nhận từ chính quyền địa phương, những người từng tham gia việc giao đất và các hộ dân liên quan. Các tài liệu này đều thể hiện nội dung ông A. đã nộp tiền khi được giao đất nhưng hóa đơn, chứng từ bị thất lạc. Điều 12 Nghị định 103 năm 2024 đã nêu cụ thể ngoài hóa đơn, biên lai nộp tiền, còn có giấy xác nhận, và ông A. đang giữ nhiều giấy xác nhận liên quan việc đã đóng tiền. Do đó, văn bản của cơ quan thuế yêu cầu ông A. phải đóng 5,3 tỷ đồng cần phải thay đổi. "Nếu các tài liệu xác nhận đáp ứng yêu cầu theo quy định thì đây hoàn toàn là căn cứ để chứng minh người dân đã thực hiện nghĩa vụ tài chính", luật sư nhận định.
Trở ngại về thời hiệu và hướng đi phù hợp
Dù vậy, luật sư nói thêm, trở ngại lớn nhất hiện nay nằm ở chỗ câu chuyện đã xảy ra từ năm 2017. Quyết định đóng tiền, yêu cầu đóng tiền xảy ra từ năm 2012 và các quyết định giải quyết khiếu nại đã diễn ra tại thời điểm đó. Bên cạnh đó, thời hiệu khiếu nại có 90 ngày kể từ ngày cơ quan chức năng ban hành quyết định hành chính, quyết định hành chính ban hành năm 2022, năm 2026 mới đi khiếu nại thì vô vọng. Thời hiệu để người dân khởi kiện chỉ là 1 năm, đến thời điểm hiện tại cũng đã hết thời hiệu khởi kiện. Do đó, nếu tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiện đối với các quyết định cũ thì khả năng đơn của ông A. được cơ quan chức năng thụ lý là rất thấp.
Theo luật sư, hướng đi phù hợp trong trường hợp này là người dân tập hợp các chứng cứ mới, căn cứ pháp lý mới... khi pháp luật sửa đổi. Đồng thời viết các đơn kiến nghị theo quy trình của luật tiếp công dân đến các cơ quan hành chính cấp xã, chi nhánh phòng đăng ký đất đai, cơ quan thuế đề nghị xem xét lại hồ sơ. Nếu các cơ quan này ban hành văn bản trả lời hoặc quyết định hành chính mới không chấp nhận nội dung đơn kiến nghị. Lúc này đây là một hành vi hành chính mới, quyết định hành chính mới, và người dân có thể thực hiện lại quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo trình tự luật định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.



