Luật sư nhìn nhận do tội danh không thuộc nhóm bắt buộc khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc các đối tượng chủ động hoàn trả tiền không phải căn cứ để mặc định miễn trừ trách nhiệm pháp lý.
Đừng nghĩ trả lại tiền là xong!
Sau khi những đường dây lừa đảo người cao tuổi ký Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ bị phanh phui, nhiều bị hại cho biết họ bất ngờ được nhân viên các công ty bán thẻ sở hữu kỳ nghỉ chủ động liên hệ, đề nghị hoàn lại tiền sau một khoảng thời gian "bặt vô âm tín". Tất cả đều hiểu những hành động này mang đầy tính miễn cưỡng, không xuất phát từ sự thực tâm và chỉ nhằm vớt vát lại những hy vọng mong manh về việc được miễn trừ trách nhiệm trước pháp luật khi bị hại có thể mủi lòng, không tố giác. Vậy theo quy định pháp luật, việc hoàn lại tiền có đồng nghĩa với việc được loại trừ trách nhiệm pháp lý hay không?
Dưới góc độ pháp lý, luật sư Trần Hoàng Linh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) nhìn nhận đối với vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên, bị hại trong vụ án là những người vì tin tưởng vào những lời cam kết, hứa hẹn gian dối, không có thật của các đối tượng mà bỏ tiền để sở hữu thẻ kỳ nghỉ, dẫn tới thiệt hại nghiêm trọng về tài sản. Họ có quyền trình báo, tố giác tới cơ quan công an để yêu cầu xử lý hình sự, đồng thời buộc các công ty này phải hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt.
Đối với các đối tượng lừa đảo, trong trường hợp được xác định là bị can trong vụ án, những người này sẽ phải chịu trách nhiệm về hình sự và dân sự. Trong đó, trách nhiệm hình sự được xác định theo khung hình phạt quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn trách nhiệm dân sự là nghĩa vụ khắc phục hậu quả, hoàn trả số tiền chiếm đoạt từ hành vi gian dối cho các bị hại.
Luật sư nhìn nhận đây là 2 nghĩa vụ riêng biệt, và việc các đối tượng chủ động liên hệ, hoàn trả tiền cho các bị hại, tức thực hiện nghĩa vụ dân sự không phải căn cứ miễn trừ trách nhiệm hình sự trong vụ án này.
"Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về một số tội danh chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại quy định tại khoản 1 các Điều 134 (Cố ý gây thương tích), Điều 138 (Vô ý gây thương tích), Điều 141 (Hiếp dâm) hay Điều 155 (Làm nhục người khác)... Trong số các tội danh này không có quy định về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc các bị hại có yêu cầu xử lý hình sự hay không vì vậy không phải điều kiện bắt buộc để các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét có xử lý hình sự hay không bởi tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản không phải tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Bởi vậy, dù các đối tượng có chủ động hoàn trả tiền và các bị hại có tố giác, yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, cơ quan điều tra vẫn có thể xem xét trách nhiệm và áp dụng các biện pháp xử lý hình sự theo quy định trên cơ sở xác minh các thông tin, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án và nguồn tin tố giác, tin báo khác về tội phạm (nếu có)", luật sư bình luận.
Từ phân tích nêu trên, luật sư cho rằng việc trả lại tiền không có nghĩa là vấn đề được giải quyết xong, và trách nhiệm pháp lý vẫn cần được xem xét theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc các đối tượng chủ động liên hệ, hoàn trả tiền sẽ là cơ sở để được xem xét, ghi nhận tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quá trình giải quyết tại các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền.
Mức phạt cao nhất có thể lên tới "án chung thân"
Về chế tài, luật sư cho biết theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, tùy thuộc giá trị tài sản chiếm đoạt và tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị truy tố với mức phạt cao nhất theo khoản 4 Điều này là phạt tù 12-20 năm hoặc thậm chí là cao nhất ở mức "án chung thân", áp dụng trong trường hợp số tiền chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên.
Về trách nhiệm riêng biệt với từng cá nhân trong hệ thống lừa đảo, việc xác định trách nhiệm pháp lý sẽ được bóc tách, đánh giá dựa trên số tiền mà các đối tượng đã trực tiếp lừa đảo các nạn nhân và vị trí, vai trò của họ trong tổng thể bức tranh của ổ nhóm lừa đảo. Trong trường hợp một cá nhân trực tiếp lừa đảo, chiếm đoạt số tiền ít hơn so với tổng số tiền chiếm đoạt trong vụ án nhưng kết quả xác minh cho thấy họ là một mắt xích quan trọng, có giá trị trong việc vận hành toàn bộ hệ thống, đối tượng đó vẫn có thể phải chịu trách nhiệm về tổng số tiền mà cả hệ thống đã lừa đảo, chiếm đoạt của các nạn nhân.
Đối với số tiền trực tiếp chiếm đoạt được từ các bị hại, dù họ có trình báo hay không, cơ quan điều tra vẫn sẽ tiến hành xác minh nguồn tin về tội phạm thông qua các nguồn chứng cứ, tài liệu khác như lời khai các đối tượng, dữ liệu điện tử trên máy chủ của ổ nhóm lừa đảo hay sao kê tài khoản ngân hàng của các công ty lừa đảo. Khi đó, nếu công an xác định có xuất hiện số tiền chiếm đoạt được từ hành vi lừa đảo, dù bị hại có trình báo hay không, đây vẫn được ghi nhận là số tiền do phạm tội mà có và các đối tượng vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý về số tiền này.



