Hòa giải cơ sở: Thiết chế văn hóa còn nhiều khoảng trống pháp lý
Hòa giải ở cơ sở là một thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, mang đậm nét văn hóa Việt Nam, nhằm xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên và hàn gắn mối quan hệ trên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Tuy nhiên, sau hơn 12 năm hoạt động, thiết chế này vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa phát huy rõ nét vai trò và giá trị pháp lý của hòa giải.
Giá trị công nhận còn hạn chế và thách thức từ thực tế
Hiện nay, số lượng tổ hòa giải và hòa giải viên trên cả nước khá lớn, phân bổ đều khắp các địa bàn dân cư. Tổng số vụ việc hòa giải mỗi năm tại mỗi địa phương đều cao, có nơi lên đến hàng nghìn vụ. Lực lượng hòa giải viên ngày càng được trẻ hóa, nhưng trình độ, kỹ năng và kinh nghiệm chênh lệch rõ rệt. Trình độ và kỹ năng vận dụng pháp luật của nhiều hòa giải viên còn hạn chế, dẫn đến chất lượng các vụ việc hòa giải chưa cao.
Dù tỷ lệ hòa giải thành ở cơ sở đạt khoảng 80%, nhưng rất ít trường hợp được tòa án công nhận kết quả. Nguyên nhân không chỉ nằm ở nhận thức của người dân và quy định thiếu chặt chẽ của luật, mà còn ở năng lực nghiệp vụ hạn chế của hòa giải viên, đặc biệt là kỹ năng lập biên bản và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Trong khi đó, tỷ lệ luật sư, luật gia, hoặc người có chuyên môn pháp luật tham gia hòa giải tại nhiều địa phương hiện mới chỉ ở mức 1-2%.
Tâm tư của hòa giải viên: Cần cân bằng giữa tình và lý
Ông Trần Thái Sơn, Tổ trưởng Tổ hòa giải phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, chia sẻ: “Việc hòa giải luôn được thực hiện với tinh thần bảo đảm trật tự an ninh, tránh để vụ việc đi quá xa, nhất là hành vi vi phạm pháp luật. Chúng tôi đều là người ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng, nhiều khi cũng bị vạ lây nhưng bằng tinh thần trách nhiệm, chúng tôi luôn cố gắng hết sức. Hiện nay, chúng tôi không có gậy pháp lý mà chủ yếu dựa trên tình cảm để hòa giải. Chúng tôi mong muốn được tham gia tập huấn thường xuyên các chính sách luật pháp về dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình để công tác tốt hơn.”
Ông Vũ Hồng Diên, Tổ trưởng Tổ hòa giải phường Khương Đình, thành phố Hà Nội, là cán bộ quân đội về hưu, cho biết: “Mặc dù đã có thâm niên hai nhiệm kỳ, nhưng do không có chuyên môn nghiệp vụ sâu về hòa giải, tôi chủ yếu vẫn dựa vào uy tín và tình làng nghĩa xóm để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp tại khu dân cư. Bản thân tôi cứ có vụ nào là lại giở tài liệu để nghiên cứu. Chúng tôi ở cơ sở rất mong được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng và kiến thức pháp luật để chuyên môn tốt hơn, tổ chức hòa giải có tính chất pháp lý cao hơn.”
Đây là tâm tư chung của nhiều hòa giải viên, bởi hòa giải ở cơ sở cần cân bằng giữa cái tình của sự thấu hiểu và uy tín từ cộng đồng với cái lý của các quy định, chính sách pháp luật.
Kết quả khảo sát và nhu cầu cải cách
Theo kết quả khảo sát thực trạng công tác hòa giải ở cơ sở và kiến nghị hoàn thiện thể chế, chính sách về hòa giải ở cơ sở, được triển khai tại 34 tỉnh, thành phố với sự tham gia của hơn 13.000 hòa giải viên và hơn 30.000 người dân, do Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp công bố cuối năm 2025, có 51,4% số người dân cho rằng yếu tố cần thiết của hòa giải viên là hiểu biết pháp luật, trong khi 30,4% số ý kiến lại đề cao tiêu chuẩn uy tín.
Về phía hòa giải viên, 37,7% cho rằng yêu cầu quan trọng nhất là nắm vững các quy định pháp luật; 31,9% nhấn mạnh uy tín cao trong cộng đồng, và hơn 30% đề cập đến kỹ năng hòa giải tốt. Có đến 68% số hòa giải viên mong muốn được bổ sung quyền mời người có uy tín, am hiểu pháp luật tham gia hỗ trợ hòa giải, và 61,2% đồng ý với quy định bắt buộc tham gia bồi dưỡng định kỳ về kỹ năng và kiến thức pháp luật.
Hướng tới nâng cao tính chuyên nghiệp và bền vững
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến hoàn thiện hồ sơ chính sách sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở. Theo các chuyên gia, lần sửa đổi này cần xác định rõ ràng trách nhiệm, địa vị pháp lý, và cơ cấu tổ chức của các tổ hòa giải. Đồng thời, phải có cơ chế đào tạo nâng cao trình độ hiểu biết và áp dụng pháp luật cho các hòa giải viên, hướng tới áp dụng chuyển đổi số vào hòa giải.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế xã hội hóa hợp lý để thu hút luật sư, luật gia, và người có trình độ pháp luật tham gia hoạt động hòa giải, qua đó nâng cao tính chuyên nghiệp và bền vững của mô hình này.
Bà Phạm Thúy Hạnh, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Văn phòng Chính phủ, nhấn mạnh: “Cần luật hóa và cụ thể hóa một cách chặt chẽ, đồng bộ trong nhiều văn bản luật có liên quan như Luật Luật sư, Luật Công chứng để bảo đảm tính khả thi. Cơ quan chủ trì soạn thảo cần xem xét kỹ thực trạng để có phương án nâng tỷ lệ luật sư, công chứng viên tham gia hòa giải.”
Từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Đặng Bá Bắc đề xuất làm rõ hơn vai trò của ủy ban nhân dân cấp xã trong tổ chức, quản lý, hỗ trợ, và điều phối hoạt động các tổ hòa giải. Một số sở tư pháp khác đề nghị phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho các tổ hòa giải ở cơ sở, nâng cao tính chịu trách nhiệm của các hòa giải viên, và có cơ chế kiểm soát việc thực hiện hòa giải cơ sở.
Phó Giám đốc Sở Tư pháp thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Hương đề xuất nghiên cứu cơ chế, chính sách tài chính hợp lý để bảo đảm nguồn lực cho các tổ hòa giải, cùng với các giải pháp nâng cao chất lượng chuyên môn cho hòa giải viên.



