Các hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm kém chất lượng, sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc hoặc vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, đồng thời làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng và tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư, kinh doanh.
Kinh doanh thực phẩm có trách nhiệm và thách thức với doanh nghiệp nhỏ
Trong bối cảnh đó, kinh doanh thực phẩm có trách nhiệm đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật, minh bạch trong toàn bộ chuỗi sản xuất, chế biến, phân phối và đặt lợi ích, sức khỏe người tiêu dùng lên hàng đầu. Đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh là những chủ thể chiếm tỷ trọng lớn trong ngành thực phẩm, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin và năng lực tuân thủ pháp luật.
Ông Trần Minh Sơn, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Cục Pháp luật dân sự-kinh tế, Bộ Tư pháp cho rằng, đối với doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc thực hiện kinh doanh có trách nhiệm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Trong đó, không ít doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh chưa đủ nguồn lực để đầu tư công nghệ, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế hoặc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ. Tình trạng sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, vi phạm quy định về phụ gia thực phẩm, quảng cáo sai sự thật hoặc thiếu minh bạch trong chuỗi cung ứng vẫn còn xảy ra ở một số lĩnh vực.
Khó khăn trong đáp ứng yêu cầu SPS quốc tế
Theo Tiến sĩ Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về Vệ sinh Dịch tễ và Kiểm dịch Động thực vật Việt Nam (SPS), Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu SPS của thị trường quốc tế vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc xuất phát từ sự thay đổi nhanh của quy định thị trường, đặc điểm sản xuất nông nghiệp trong nước và năng lực tiếp nhận, thực thi thông tin SPS của các chủ thể trong chuỗi. Điểm nghẽn cốt lõi hiện nay không chỉ là việc tiếp cận thông tin SPS mà còn do khả năng chuyển hóa thông tin kỹ thuật thành quy trình quản trị chất lượng, tổ chức sản xuất và kiểm soát chuỗi cung ứng phù hợp với yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu.
Quy định chồng chéo, thiếu đồng bộ
Thực tế, không ít doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm gặp khó khăn do các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Đơn cử, một hoạt động kinh doanh thực phẩm hiện nay đồng thời phải tuân thủ các quy định: Luật về An toàn thực phẩm, Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cùng các quy định chuyên ngành khác. Trong khi đó, quy định về truy xuất nguồn gốc và ghi nhãn hàng hóa hiện cũng chưa thống nhất khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh hồ sơ, bao bì làm tăng chi phí vận hành; năng lực truy xuất nguồn gốc giữa các địa phương và doanh nghiệp không đồng đều, trong khi chưa có cơ sở dữ liệu chung thống nhất, liên thông giữa các khâu sản xuất, vận chuyển, phân phối.
Ông Đỗ Mạnh Hùng, Chi cục trưởng An toàn thực phẩm tỉnh Hưng Yên kiến nghị, các quy định luật cần rõ ràng hơn, giảm bớt các cấp chứng nhận, bởi hiện nay vẫn còn một số quy định không sát thực tế, gây khó khăn trong công tác xử lý.
Vướng mắc trong thực thi pháp luật
Chia sẻ về những vướng mắc, bất cập trong thực thi pháp luật, gây khó khăn cho các doanh nghiệp, ông Nguyễn Hồng Uy, Trưởng ban kỹ thuật Tiểu ban thực phẩm, dinh dưỡng, Hiệp hội Doanh nhân châu Âu tại Việt Nam (Eurocharm) cho biết, hiện có tình trạng sau sáp nhập, chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh được sáp nhập không công nhận giấy phép của cơ quan quản lý của tỉnh bị sáp nhập. Hoặc tại Nghị định số 15/2028/NĐ-CP yêu cầu rõ kết quả kiểm nghiệm dùng để đăng ký công bố được thực hiện bởi phòng kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO 17025, nhưng nhiều Chi cục An toàn thực phẩm các tỉnh vẫn yêu cầu doanh nghiệp nộp kết quả kiểm nghiệm và tất cả các phương pháp kiểm nghiệm phải được chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 17025. Trong khi, Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã ban hành công văn hướng dẫn chỉ cần phòng kiểm nghiệm có giấy phép ISO, không phải yêu cầu cho từng kiểm nghiệm, chỉ tiêu.
Đại diện Hội Khoa học kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam (VINAFOSA) cho hay, nhiều doanh nghiệp gặp khó trong thực thi quy định về kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật trên cạn bao gồm các sản phẩm sữa theo Thông tư số 01/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Theo đó, một sản phẩm đã được bao gói và chế biến sâu tại Thành phố Hồ Chí Minh khi vận chuyển đến Hà Nội và đi qua nhiều tỉnh, thành phố vẫn liên tục phải kiểm dịch, gây khó cho doanh nghiệp. Hiệp hội Sữa Việt Nam cũng phản ánh về việc các sản phẩm sữa đã tiệt trùng, đóng gói kín nhưng vẫn bị yêu cầu kiểm dịch động vật khi vận chuyển ra khỏi địa bàn tỉnh nơi đặt nhà máy theo Phụ lục II Thông tư số 01. Hệ quả là chi phí vận chuyển tăng, thời gian lưu thông chậm, năng lực cạnh tranh giảm, đồng thời tăng gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp.
“Chúng tôi mong muốn các cơ quan làm chính sách nghiên cứu lại những vấn đề bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp tại Thông tư số 01. Bởi, khi Thông tư ra đời, các siêu thị, đối tác và doanh nghiệp đều phải căn cứ theo để thực hiện. Nhưng một sản phẩm vận chuyển qua 20 tỉnh, đồng thời phải kiểm dịch qua từng đó tỉnh thì rất khó đáp ứng”, đại diện VINAFOSA chia sẻ.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Theo Luật sư Nguyễn Hưng Quang, Nhà nước cần hoàn thiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, hiệp hội và người dân trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung vừa bảo đảm an toàn thực phẩm vừa giảm gánh nặng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.



