5 hành vi trốn thuế phổ biến doanh nghiệp và hộ kinh doanh thường mắc
5 hành vi trốn thuế phổ biến doanh nghiệp và hộ kinh doanh

Luật Quản lý thuế số 2025 chính thức có hiệu lực từ 1/7/2026, trong đó xác định 10 hành vi trốn thuế. Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các hành vi trốn thuế theo luật mới không thay đổi quá nhiều so với Luật Quản lý thuế 2019. Trên thực tế, ông Tuấn chỉ ra 5 hành vi phổ biến mà nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh vẫn đang mắc phải.

Không nộp hồ sơ đăng ký thuế và khai thuế

Hành vi đầu tiên là không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn.

Ông Tuấn phân tích, thực tế giai đoạn thuế khoán trước đây, hộ kinh doanh đã được cấp giấy phép nhưng do thiếu hiểu biết, chủ hộ không thực hiện khai báo với cơ quan thuế, dẫn đến tình trạng đã kinh doanh nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ thuế. Do đó, với hộ kinh doanh hiện nay, sau khi được cấp giấy phép kinh doanh, cần làm việc với cơ quan thuế để đăng ký thuế và được hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Ngoài ra, các trường hợp làm việc tự do, thu nhập phát sinh tại Việt Nam hoặc có thu nhập ở nước ngoài nhưng chưa kê khai thuế, nộp thuế cũng thuộc hành vi này. Chuyên gia lý giải, nếu cá nhân không đăng ký kinh doanh thì cần tự kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân hàng quý theo dạng tiền lương, tiền công, với thuế suất lũy tiến 5-35%. Ngược lại, cá nhân đã đăng ký kinh doanh sẽ tự kê khai và nộp thuế thu nhập từ kinh doanh, thường tính thuế 7% doanh thu.

Chuyên gia cũng lưu ý, các cá nhân nhận thu nhập qua Paypal hoặc ví điện tử, dù bằng VND hay USD, đều cần chuyển đổi sang đồng Việt Nam để kê khai, nộp thuế theo quy định.

Không ghi chép, ghi nhận trong sổ kế toán các khoản thu

Ông Tuấn cho biết đây là trường hợp rất phổ biến, ví dụ: lập hai hệ thống sổ sách gồm sổ nội bộ và sổ thuế; dùng tài khoản cá nhân của chủ doanh nghiệp, người thân và nhân viên để nhận tiền bán hàng; bán hàng cho người dân không xuất hóa đơn (do người dân không có nhu cầu lấy hóa đơn); bán hàng thu tiền mặt không xuất hóa đơn.

Hành vi này dẫn đến dòng tiền trên báo cáo bị thiếu hụt, gây âm quỹ tiền mặt hoặc phải vay mượn giám đốc để bù đắp. Cơ quan thuế có thể kiểm kê hàng tồn kho thực tế để phát hiện hàng tồn kho ảo trên sổ sách. Khi thanh kiểm tra thuế hoặc giải thể doanh nghiệp, cơ quan thuế có thể yêu cầu sao kê tài khoản ngân hàng của chủ doanh nghiệp, vợ chồng, chủ hộ kinh doanh, thậm chí người liên quan để xác minh dòng tiền. Các dấu hiệu bất thường về giá trị và số lượng giao dịch sẽ bị lộ ra.

Không lập hóa đơn và kê khai thuế khi bán hàng

Trên thực tế, doanh nghiệp và hộ kinh doanh thường bán hàng cho người dân không xuất hóa đơn (vì người dân không có nhu cầu) hoặc thu tiền mặt không xuất hóa đơn. Tuy nhiên, rất khó phân biệt hành vi có chủ đích trốn thuế và hành vi vô tình. Do đó, chủ hộ kinh doanh cần tìm hiểu quy định để thực hiện chính sách thuế.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Ngoài ra, việc doanh nghiệp xuất hóa đơn cho hộ kinh doanh với giá thấp hơn thực tế là trường hợp phổ biến. Nhiều hộ kinh doanh phản ánh, họ mua giá 100 đồng, thanh toán 100 đồng, nhưng doanh nghiệp chỉ xuất hóa đơn 70 hoặc 80 đồng. "Điều này hiển nhiên là hành vi kê khai doanh thu thấp hơn thực tế. Xem xét tình huống thực tế, đây là hành vi trốn thuế có chủ đích từ ban đầu", ông Tuấn nhấn mạnh. Chủ hộ kinh doanh cần yêu cầu doanh nghiệp xuất hóa đơn đúng giá thực tế để có hóa đơn đầu vào, kê khai chi phí, hoặc hạn chế bị hệ thống cơ quan thuế nhận diện rủi ro qua hệ số K.

Hành vi bán hàng không tính thuế giá trị gia tăng trong giá bán, dẫn đến không xuất hóa đơn, chỉ xuất khi người mua trả thêm tiền thuế, cũng là hành vi trốn thuế có chủ đích. Khi phát hiện, cơ quan thuế có thể xử lý tăng nặng, thậm chí truy tố để răn đe.

Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp

Hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để hạch toán hàng hóa, dịch vụ mua vào nhằm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, khấu trừ, hoàn. Ông Tuấn nhấn mạnh đây là hành vi gian lận tiền thuế có chủ đích, dẫn đến hình phạt nghiêm khắc.

Khi sử dụng hóa đơn điện tử, cơ quan thuế có hệ thống giám sát bằng hệ số K, truy vết từ chuỗi giao dịch, thậm chí giám sát bằng dữ liệu Big data để phát hiện bất thường. Hiện nay, nhiều hộ kinh doanh đã phải giải trình hệ số K bất thường với cơ quan thuế.

Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch

Chỉ các khoản chi phục vụ hoạt động kinh doanh mới được dùng nguồn lực của doanh nghiệp và hộ kinh doanh để chi trả, sau đó ghi nhận vào chi phí. Tuy nhiên, thực tế có nhiều hành vi sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch để giảm nghĩa vụ thuế, như: kê khống chi phí lương không có thực (dùng căn cước công dân của người khác để tạo lập khống hồ sơ chi phí lương); chi cho cá nhân và gia đình nhưng lấy hóa đơn cho doanh nghiệp (mua máy điều hòa, túi xách cho vợ); lấy pháp nhân doanh nghiệp vay tiền ngân hàng, ghi nhận chi phí lãi vay cho doanh nghiệp nhưng thực tế dùng cho mục đích cá nhân.

Hành vi này giúp doanh nghiệp tăng chi phí, giảm lợi nhuận chịu thuế, tức giảm thuế phải nộp. Đây là hành vi trốn thuế có chủ đích. Hoặc doanh nghiệp và hộ kinh doanh yêu cầu người mua thanh toán với nội dung nhận tiền không liên quan mua bán hàng hóa, dịch vụ, như "happy birthday, happy wedding, anh yêu em". Đây là vấn đề phổ biến khoảng một năm trước khi thuế vào cuộc giám sát.

Ngoài 5 hành vi trên, Luật Quản lý thuế 2025 còn xác định 5 hành vi trốn thuế khác: khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm trốn thuế; sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế không đúng mục đích; người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.