Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, đà phục hồi kinh tế được củng cố nhờ ổn định vĩ mô, sản xuất công nghiệp và dịch vụ tăng, đầu tư công đẩy mạnh. Tuy nhiên, bối cảnh thế giới tiềm ẩn bất định: bảo hộ thương mại gia tăng, biến động địa chính trị, chính sách tiền tệ các nền kinh tế lớn, tổng cầu thế giới phục hồi không đồng đều. Trong nước, sức chống chịu doanh nghiệp hạn chế, động lực tăng trưởng truyền thống suy yếu, động lực mới chưa đủ mạnh.
Bốn áp lực tăng trưởng chính
Bà Hương nêu rõ áp lực thứ nhất: xu hướng bảo hộ thương mại, mở rộng biện pháp phòng vệ và rào cản kỹ thuật làm tăng rủi ro xuất khẩu. Áp lực thứ hai: xuất khẩu phụ thuộc vào một số thị trường và nhóm hàng chủ lực, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước thấp. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công gặp khó khăn do giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục điều chỉnh dự án kéo dài, thiếu vật liệu xây dựng, năng lực triển khai không đồng đều.
Áp lực thứ ba: khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp khó khăn về dòng tiền, tiếp cận tín dụng, chi phí logistics, biến động thị trường đầu ra. Mặt bằng lãi suất giảm nhưng khả năng hấp thụ vốn chưa cải thiện, phản ánh tâm lý thận trọng. Áp lực thứ tư: điều hành kinh tế vĩ mô, tỷ giá, lãi suất, lạm phát. Biến động đồng USD, chính sách tiền tệ các ngân hàng trung ương lớn, giá năng lượng và nguyên liệu tạo sức ép lên tỷ giá và giá trong nước. Việc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ.
Thị trường bất động sản phục hồi phân hóa
Thị trường bất động sản có tín hiệu phục hồi nhưng diễn biến phân hóa giữa các phân khúc. Nguồn cung nhà ở phù hợp nhu cầu thực hạn chế, nhiều doanh nghiệp bất động sản khó khăn tài chính và huy động vốn, ảnh hưởng đến phục hồi ngành xây dựng và các ngành liên quan.
Động lực tăng trưởng truyền thống
Bà Hương nhận định nền kinh tế vẫn có nhiều yếu tố thuận lợi. Động lực từ sản xuất: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là nền tảng nếu đơn hàng xuất khẩu cải thiện và sản xuất của doanh nghiệp FDI duy trì ổn định. Dòng vốn FDI tiếp tục là điểm sáng nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Các dự án điện tử, bán dẫn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, năng lượng tạo dư địa mở rộng năng lực sản xuất trung và dài hạn.
Khu vực dịch vụ giữ vai trò động lực quan trọng: thương mại, vận tải, logistics, tài chính-ngân hàng, công nghệ thông tin, lưu trú, ăn uống, du lịch được kỳ vọng duy trì tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu trong nước gia tăng và thị trường khách quốc tế phục hồi.
Động lực từ phía cầu
Đầu tư công là động lực quan trọng 6 tháng cuối năm. Quy mô vốn đầu tư công lớn, nhiều dự án hạ tầng trọng điểm như đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, các trục cao tốc liên vùng, 5 tuyến metro tại Hà Nội vừa khởi công. Đẩy nhanh giải ngân tạo hiệu ứng lan tỏa đến xây dựng, công nghiệp chế biến vật liệu, vận tải, thương mại, tạo việc làm, kích thích tổng cầu. Đầu tư tư nhân kỳ vọng hồi phục góp phần mở rộng tổng cầu.
Tiêu dùng trong nước tiếp tục phục hồi nhờ thu nhập, việc làm cải thiện, thương mại điện tử, bán lẻ hiện đại, kích cầu tiêu dùng phát triển. Những tháng cuối năm là cao điểm mua sắm, dịch vụ, thúc đẩy thương mại và dịch vụ. Dư địa điều hành chính sách của Chính phủ: thực hiện đồng bộ giải pháp tài khóa và tiền tệ, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư, củng cố niềm tin doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Động lực tăng trưởng mới
Sự dịch chuyển chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư quốc tế tạo cơ hội nâng cao vị thế Việt Nam trong sản xuất toàn cầu. Với lợi thế chính trị ổn định, hiệp định thương mại tự do, vị trí địa kinh tế thuận lợi, Việt Nam là điểm đến hấp dẫn cho dự án công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, sản xuất thông minh. Cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết doanh nghiệp trong nước với FDI để nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng mới chiến lược. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), tự động hóa nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, tối ưu hóa chuỗi cung ứng, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng. Thương mại điện tử, thanh toán số, tài chính số, nền tảng số mở rộng không gian kinh tế số, đóng góp ngày càng lớn vào GDP. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế; đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu. Đóng góp của động lực này 6 tháng cuối năm chủ yếu nâng cao hiệu quả các ngành hiện có hơn là tạo đột phá ngắn hạn.
Phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi năng lượng mở ra cơ hội thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh. Cam kết phát thải ròng bằng 0, xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng bền vững tạo điều kiện thu hút dự án năng lượng tái tạo, công nghệ sạch, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn. Việc hiện thực hóa cơ hội phụ thuộc vào tiến độ hoàn thiện cơ chế, chính sách, huy động nguồn lực đầu tư và phát triển hạ tầng năng lượng.
Cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được xem là động lực nền tảng. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, xây dựng, thị trường vốn nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, khuyến khích đầu tư tư nhân và đổi mới sáng tạo. Động lực này có tác động lan tỏa rộng, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), cải thiện năng lực cạnh tranh, tạo nền tảng tăng trưởng nhanh, bền vững trung và dài hạn.



