Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 và tình hình triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu tập trung đổi mới giáo dục đại học, xây dựng các đại học tinh hoa và trung tâm đào tạo xuất sắc.
Chiến lược quy hoạch hệ thống đại học theo sứ mạng
Theo chiến lược mới, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam sẽ được quy hoạch theo sứ mạng và mục tiêu phát triển, hình thành các nhóm chức năng khác nhau: đại học tinh hoa, đại học trọng điểm và đại học định hướng phục vụ đại chúng. Mục tiêu là đáp ứng đa dạng nhu cầu của quốc gia, thị trường lao động và xã hội.
Trong cấu trúc đó, đại học tinh hoa phải trở thành trung tâm tạo lập tri thức, công nghệ, nhân lực chiến lược và năng lực đổi mới sáng tạo cho đất nước. Đại học tinh hoa là những cơ sở giáo dục đại học có năng lực dẫn dắt sự phát triển tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đóng vai trò quan trọng của quốc gia. Đây là nơi đào tạo các nhà khoa học, nhà giáo dục, chuyên gia công nghệ, doanh nhân đổi mới sáng tạo, nhà hoạch định chính sách và đội ngũ lãnh đạo tương lai, đồng thời tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, phương thức phát triển mới và năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.
Phát triển đại học tinh hoa là lựa chọn chiến lược quốc gia
Phát triển đại học tinh hoa ở Việt Nam phải là một lựa chọn chiến lược quốc gia. Từ đó, một số đại học đủ mạnh sẽ được nâng cấp năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch hay công nghệ lượng tử.
Năm điều kiện cốt lõi để hình thành đại học tinh hoa
Muốn hình thành đại học tinh hoa, cần có một hệ điều kiện đồng bộ, ổn định và đủ mạnh. Điều kiện thứ nhất là năng lực lãnh đạo và quản trị đại học. Cần những nhà lãnh đạo đại học có tầm nhìn, năng lực quản lý, tư duy học thuật, năng lực chiến lược, khả năng thiết kế thể chế và kết nối nguồn lực trong nước, quốc tế. Đại học hiện đại chuyển từ quản lý tuân thủ sang quản trị chiến lược, từ vận hành theo thủ tục sang kiến tạo môi trường học thuật và đổi mới sáng tạo.
Điều kiện thứ hai là đội ngũ học giả có năng lực dẫn dắt. Việt Nam cần hình thành đội ngũ nhà khoa học đầu đàn có năng lực quốc tế, dẫn dắt các nhóm nghiên cứu lớn, phát triển trường phái học thuật, thiết kế chương trình nghiên cứu dài hạn và đào tạo thế hệ kế cận.
Điều kiện thứ ba là cơ chế đầu tư dài hạn, cần thời gian tích lũy trong nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu công nghệ lõi. Các quốc gia thành công thường chuyển từ tư duy đầu tư theo từng nhiệm vụ rời rạc sang cơ chế tài trợ chiến lược dài hạn, trong đó có block funding (cấp vốn trọn gói) cho các đại học nòng cốt, kết hợp với quỹ cạnh tranh dựa trên chất lượng. Chỉ khi có nguồn lực ổn định trong 5 đến 10 năm, các trường mới có thể chủ động thu hút nhân tài, xây dựng phòng thí nghiệm mạnh, phát triển nhóm nghiên cứu liên ngành và theo đuổi những vấn đề khoa học lớn.
Điều kiện thứ tư là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đại học. Đại học tinh hoa cần có các trung tâm nghiên cứu liên ngành, văn phòng chuyển giao công nghệ, trung tâm ươm tạo, quỹ đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp spin-off, mạng lưới cố vấn, đối tác doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng. Đây là tinh thần của mô hình đại học vừa tạo ra tri thức mới, vừa chuyển hóa tri thức thành công nghệ, chính sách, sản phẩm, doanh nghiệp, tiêu chuẩn kỹ thuật và tác động xã hội.
Điều kiện thứ năm là tự chủ thực chất đi đôi với trách nhiệm giải trình. Đó là không gian tự chủ về học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế, đi cùng trách nhiệm giải trình dựa trên chất lượng, hiệu quả và tác động. Nhà nước cần chuyển từ kiểm soát đầu vào và thủ tục sang đặt hàng chiến lược, đánh giá kết quả và kiến tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Tóm lại, đại học tinh hoa không chỉ là đại học có thứ hạng tốt, mà là đại học có mức độ tự chủ cao và được vận hành dựa trên bốn trụ cột: lãnh đạo có tầm nhìn, học giả có năng lực dẫn dắt, tài chính dài hạn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh. Thiếu một trong bốn trụ cột này, đại học khó vượt khỏi vai trò đào tạo thông thường để trở thành thiết chế tri thức có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Nâng cao năng lực nghiên cứu và công bố quốc tế
Nâng cao năng lực nghiên cứu và công bố quốc tế là định hướng đúng, cần được quán triệt trong quá trình phát triển giáo dục đại học, khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, cần hiểu đúng mục tiêu của đầu tư cho nghiên cứu. Công bố quốc tế là thước đo năng lực nghiên cứu, nhưng không phải mục tiêu cuối cùng. Bản chất của đại học nghiên cứu là tạo ra tri thức mới. Khi đại học có năng lực nghiên cứu mạnh, chất lượng đào tạo thay đổi: trình độ chuyên môn giảng viên nâng cao, sinh viên không chỉ học tri thức có sẵn mà còn tham gia vào môi trường sản sinh tri thức.
Trong mô hình đại học tinh hoa hiện đại, nghiên cứu cơ bản không tách rời đổi mới sáng tạo. Cần xây dựng chuỗi liên thông từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, thử nghiệm, chuyển giao, thương mại hóa đến tạo tác động xã hội. Đầu tư cho nghiên cứu và công bố quốc tế cần đặt trong mục tiêu lớn hơn: xây dựng năng lực sáng tạo quốc gia. Công bố quốc tế giúp đại học Việt Nam tham gia cộng đồng học thuật toàn cầu, nhưng mục tiêu sâu hơn là tạo ra học giả mạnh, nhóm nghiên cứu mạnh, công nghệ lõi, doanh nghiệp công nghệ, tư vấn chính sách chất lượng cao và năng lực cạnh tranh dài hạn.
Các điểm nghẽn lớn trong phát triển đại học tinh hoa
Điểm nghẽn lớn nhất là chưa xây dựng được hệ sinh thái phát triển đại học nghiên cứu và đại học khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đúng nghĩa. Điểm nghẽn đầu tiên là tư duy quản trị đại học chậm đổi mới, nhiều cơ sở vận hành theo logic hành chính hơn logic học thuật. Cạnh tranh đại học ngày nay thực chất là cạnh tranh về chiến lược, con người, tri thức, công nghệ và năng lực kết nối.
Một trở ngại khác là Việt Nam thiếu đội ngũ học giả đầu đàn. Dù đã có nhiều nhà khoa học giỏi, nhưng số lượng học giả có khả năng dẫn dắt các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo ảnh hưởng quốc tế trong thiết kế chương trình nghiên cứu chiến lược vẫn còn hạn chế. Đại học tinh hoa phải được xây dựng quanh các nhà khoa học lớn, nhóm nghiên cứu mạnh và trường phái học thuật có sức sống lâu dài.
Điểm nghẽn tiếp theo là cơ chế đầu tư cho nghiên cứu còn phân tán, ngắn hạn và thiếu tích lũy. Các hướng nghiên cứu lớn cần thời gian dài, chấp nhận rủi ro học thuật và đầu tư liên tục. Nếu không có cơ chế tài trợ dài hạn, khó hình thành nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm mạnh và công nghệ cạnh tranh.
Khó khăn nữa là liên kết giữa đại học với doanh nghiệp, địa phương và Nhà nước chưa đủ chặt chẽ, chưa tạo thành hệ sinh thái đồng sáng tạo. Điểm nghẽn cuối cùng là chưa xác định đầy đủ các thước đo thành công của đại học tinh hoa, vốn phải được đo bằng năng lực tạo ra nhân tài, tri thức mới, công nghệ mới, doanh nghiệp mới, chính sách tốt hơn và tác động phát triển sâu rộng.
Phát triển đại học tinh hoa ở Việt Nam không phải câu chuyện riêng của ngành giáo dục, mà là chiến lược xây dựng năng lực tri thức quốc gia. Muốn đi xa, Việt Nam phải đầu tư đúng vào lãnh đạo đại học, các nhà khoa học đầu đàn, nghiên cứu cơ bản thực chất, cơ chế tài trợ dài hạn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đại học.
Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Hữu Đức



