Bộ Tài chính đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư hướng dẫn Luật Quản lý thuế, với điểm đáng chú ý là đề xuất áp dụng cơ chế phân nhóm người nộp thuế nhằm phục vụ công tác quản lý. Cụ thể, người nộp thuế sẽ được đánh giá, phân loại theo 4 mức độ tuân thủ pháp luật thuế: Mức 1 là tuân thủ tốt, mức 2 tuân thủ trung bình, mức 3 tuân thủ thấp và mức 4 là không tuân thủ.
Phân loại theo mức độ rủi ro
Đối với phân loại mức độ rủi ro, người nộp thuế được chia thành 3 nhóm: rủi ro cao, rủi ro trung bình và rủi ro thấp. Từ kết quả phân loại này, cơ quan thuế sẽ áp dụng các biện pháp quản lý khác nhau tương ứng với từng nhóm.
Nhóm tuân thủ tốt, rủi ro thấp sẽ được áp dụng chế độ ưu tiên trong quản lý thuế. Nhóm có mức độ tuân thủ trung bình, rủi ro thấp hoặc trung bình sẽ được hỗ trợ thông qua các chương trình tuyên truyền, hướng dẫn và đào tạo nhằm nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện. Nhóm tuân thủ thấp hoặc rủi ro cao sẽ bị cảnh báo, giám sát và theo dõi để phòng ngừa rủi ro. Đối với nhóm vừa tuân thủ thấp vừa rủi ro cao, cơ quan thuế sẽ áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn như kiểm tra tại trụ sở hoặc cưỡng chế theo quy định.
Quy định phân loại này là cơ sở pháp lý để cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào nhóm rủi ro cao, đồng thời hỗ trợ và tạo thuận lợi cho nhóm tuân thủ tốt. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và khuyến khích người nộp thuế tuân thủ tự nguyện.
Áp dụng biện pháp quản lý theo nhóm
Luật sư Trần Xoa, Giám đốc Công ty luật Minh Đăng Quang, cho biết: Với người nộp thuế thuộc nhóm rủi ro cao, cơ quan thuế sẽ phân tích hồ sơ, lập danh sách trình thủ trưởng, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở. Với nhóm rủi ro trung bình và thấp, chưa thực hiện kiểm tra nhưng sẽ tiếp tục đánh giá cho kỳ sau. Đối với hoàn thuế, nhóm rủi ro cao sẽ bị kiểm tra trước, hoàn thuế sau; nhóm rủi ro trung bình và thấp được hoàn trước, kiểm tra sau nếu chưa phát hiện rủi ro. Trong quản lý nợ thuế, nhóm rủi ro cao sẽ bị tăng tần suất theo dõi, đôn đốc, làm việc trực tiếp, thậm chí tạm hoãn xuất cảnh.
Dự thảo cũng nêu rõ 4 yếu tố làm căn cứ phân nhóm: phạm vi địa bàn hoạt động, loại hình người nộp thuế (doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh…), quy mô sản xuất kinh doanh và đặc điểm ngành nghề.
Cần cơ chế khôi phục uy tín tuân thủ
Theo cơ quan soạn thảo, định hướng lớn của Luật Quản lý thuế là chuyển từ quản lý đồng loạt sang quản lý dựa trên phân tích dữ liệu và đánh giá rủi ro. Trong bối cảnh số lượng người nộp thuế gia tăng, hoạt động kinh doanh đa dạng, phân nhóm giúp quản lý linh hoạt và có trọng tâm hơn.
Luật sư Trần Xoa đánh giá cao quy định này, cho rằng nó tương tự xếp hạng tín dụng trong ngân hàng. Cá nhân, doanh nghiệp có điểm tín dụng cao (rủi ro thấp) được ưu tiên vay vốn, lãi suất thấp; ngược lại, rủi ro cao thì khó vay. Phân loại giúp cơ quan thuế xác định nhóm cần kiểm tra, tập trung vào sai sót, cùng nguồn lực nhưng quản lý tốt hơn. Doanh nghiệp tuân thủ tốt sẽ giảm thời gian thanh tra, kiểm tra.
Luật sư Châu Huy Quang, Giám đốc điều hành Hãng luật Rajah & Tann LCT, lưu ý cần có tiêu chí rõ ràng, định lượng được, dựa trên dữ liệu khách quan như tình trạng hoạt động, lịch sử kê khai, nộp thuế, sử dụng hóa đơn, vi phạm hành chính, hoàn thuế, giao dịch liên kết. Việc phân loại cần được cập nhật định kỳ, doanh nghiệp từng sai sót nhưng đã khắc phục cần có cơ chế cải thiện mức đánh giá.
Ông Quang nhấn mạnh, phân loại thuế khác với xếp hạng tín nhiệm ngân hàng vì đây là hoạt động quản lý nhà nước, yêu cầu minh bạch, quyền giải trình và kiểm soát dữ liệu cao hơn. Cần quy định rõ quyền được biết và quyền giải trình của người nộp thuế. Nếu bị xếp vào nhóm rủi ro cao, họ cần biết lý do và có cơ hội cung cấp tài liệu, giải trình, khắc phục. Đồng thời, cần cơ chế khôi phục uy tín tuân thủ: doanh nghiệp sau khi khắc phục vi phạm, nộp đủ thuế, kê khai đúng hạn trong một thời gian nhất định sẽ được nâng mức đánh giá. Cuối cùng, dữ liệu phân loại phải chính xác, cập nhật và có kiểm soát để tránh ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.



