Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo Nghị định quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập đối với người học dân tộc thiểu số rất ít người để lấy ý kiến góp ý. Dự thảo nhằm thay thế Nghị định số 57/2017/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định số 66/2025/NĐ-CP để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống chính sách hiện hành.
Mở rộng đối tượng và loại hình cơ sở giáo dục
Dự thảo hướng đến mục tiêu tạo điều kiện để người học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người được tiếp cận giáo dục đầy đủ, liên tục và bình đẳng ở tất cả các cấp học. Đối tượng được mở rộng bao gồm trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, học viên giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh.
Điểm mới nổi bật của dự thảo là bổ sung người học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập được hưởng chính sách hỗ trợ học tập khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều này bảo đảm quyền tiếp cận chính sách của người học không phụ thuộc vào loại hình cơ sở giáo dục, phù hợp chủ trương xã hội hóa giáo dục. Đây được xem là giải pháp căn cơ để phát triển nguồn nhân lực, góp phần phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Chính sách ưu tiên tuyển sinh chi tiết
Theo dự thảo, trẻ em dân tộc thiểu số rất ít người được ưu tiên vào học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập; học sinh được ưu tiên vào các trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú, trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền và trường phổ thông công lập phù hợp. Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tuyển thẳng vào nhiều loại hình trường trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông được tuyển thẳng vào trường dự bị đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và là đối tượng tuyển sinh đi học theo chế độ cử tuyển.
Đối với giáo dục đại học, người học được hưởng mức điểm ưu tiên cao nhất theo quy định tuyển sinh. Dự thảo cũng quy định chính sách ưu tiên trong tuyển sinh trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, bao gồm cộng điểm ưu tiên, ưu tiên xét tuyển hoặc tuyển thẳng theo quy định của cơ sở đào tạo. Đồng thời, cho phép sử dụng chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số trong một số trường hợp khi xét tuyển sau đại học - một điểm mới so với chính sách hiện hành.
Hỗ trợ học tập theo từng cấp học
Dự thảo quy định mức hỗ trợ học tập theo từng nhóm người học thay vì áp dụng chung như trước đây. Mức hỗ trợ từ 30% đến 150% mức lương cơ sở/người/tháng, tương ứng với từng cấp học và loại hình đào tạo. Sinh viên, học viên sau đại học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người được đề xuất hưởng mức hỗ trợ cao nhất là 150% mức lương cơ sở mỗi tháng, đồng thời được ưu tiên bố trí chỗ ở ký túc xá. Thời gian hưởng theo đúng tháng học thực tế nhưng không quá 9 tháng/năm học hoặc chương trình đào tạo.
Dự thảo quy định rõ nguyên tắc chỉ hưởng một chính sách cùng tính chất ở mức cao nhất để tránh chồng chéo với các chính sách hỗ trợ khác đang được thực hiện theo các nghị định, quyết định hiện hành.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính
Dự thảo bổ sung các quy định nhằm thúc đẩy việc khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Theo đó, nếu cơ quan quản lý đã khai thác được đầy đủ thông tin thì người học hoặc gia đình không phải nộp giấy tờ chứng minh đối tượng hưởng chính sách. Hồ sơ chỉ phải nộp một lần trong suốt quá trình học tại cùng một cơ sở giáo dục, có thể nộp trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Thực trạng và số liệu
Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giai đoạn 2017-2026, trên toàn quốc đã có trên 44 cơ sở đại học, cao đẳng, trung cấp có sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người theo học và thực hiện chính sách theo Nghị định số 57/2017/NĐ-CP. Một số cơ sở đại học có đông học sinh dân tộc thiểu số rất ít người theo học gồm các trường thuộc Đại học Thái Nguyên, Trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Trường đại học Công nghiệp Hà Nội, các trường đại học sư phạm, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Đà Nẵng…
Dân tộc thiểu số rất ít người chiếm khoảng 0,49% dân số của 53 dân tộc thiểu số trên toàn quốc, tương đương khoảng 0,076% dân số cả nước, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Đặc biệt, có 5 dân tộc dưới 1.000 người cần đặc biệt quan tâm: Si La, Pu Péo, Rơ măm, Brâu, Ơ Đu. Trong đó, hai dân tộc Si La và Ơ Đu có khó khăn đặc thù với tỷ lệ nghèo đa chiều lớn và số dân có nguy cơ giảm. Các dân tộc này cư trú tại những địa bàn khó khăn thuộc lõi nghèo của cả nước, tập trung ở các xã, thôn/bản đặc biệt khó khăn của các tỉnh vùng núi cao, biên giới như Cao Bằng, Thái Nguyên, Lào Cai, Tuyên Quang, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Nghệ An, Lâm Đồng… Hầu hết các dân tộc này luôn bị tụt hậu trong việc tiếp cận các nguồn lực, dịch vụ công và cơ hội phát triển, tỷ lệ hộ nghèo luôn cao gấp 2 đến 4 lần so với các nhóm dân tộc khác.



