Mục tiêu phát triển đến năm 2045
Đại hội XIV của Đảng đã xác định mục tiêu rõ ràng: đến năm 2030, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, kinh tế số chiếm 30% GDP và tăng trưởng bình quân từ 10% trở lên. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Hội nghị Trung ương 3 vừa qua nhấn mạnh rằng để đạt được những mục tiêu này, không thể tiếp tục dựa vào các động lực cũ như đất đai, vốn đầu tư hay lao động giá rẻ. Điều quyết định là năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng
TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Khu vực II, cho biết: “Quan điểm này không chỉ đúng đắn về mặt chủ trương, mà còn có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc. Trên thế giới, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo từ lâu đã trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Những quốc gia vươn lên mạnh mẽ đều dựa vào sức mạnh công nghệ và tri thức.” Theo ông, Việt Nam đang hội tụ đủ chất liệu để xây dựng mô hình kinh tế thị trường kỹ thuật số xã hội chủ nghĩa, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới.
Để năng suất lao động tăng gấp đôi, TS Nguyễn Văn Điển nhấn mạnh cần tập trung vào đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức, thương mại điện tử và kinh tế chia sẻ tại các vùng đô thị. Khu vực nông nghiệp ở nông thôn phải chuyển sang kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, kết hợp nông nghiệp với du lịch. Nhà nước cần có cú hích vốn mồi như gói tài chính xanh, các giải pháp sandbox và thử nghiệm mô hình nông nghiệp du lịch sinh thái.
Vai trò của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Trong khu vực công nghiệp, Việt Nam cần đào tạo kỹ sư cao cấp, tập trung vào các ngành công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Trước đây, dây chuyền sản xuất chỉ là đóng gói, kiểm thử, sản xuất thì nay phải chuyển mình sang làm chủ thiết kế và sản xuất chip, hoàn thiện vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. TS Nguyễn Văn Điển dẫn chứng: “Mới đây, Tập đoàn Viettel đã chính thức khởi công xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng hình thành năng lực chế tạo chip bán dẫn trong nước, tạo nền tảng cho mục tiêu từng bước làm chủ công nghệ lõi và phát triển hệ sinh thái bán dẫn.” Ông nhấn mạnh rằng công tác đào tạo kỹ sư phải được đầu tư đặc biệt, vì ngành chip và công nghệ bán dẫn đòi hỏi lực lượng lao động chất lượng rất cao.
Đối với khu vực dịch vụ, cần phát triển các dịch vụ liên ngành có hàm lượng giá trị cao, ứng dụng công nghiệp 4.0. Ví dụ, chuyển từ du lịch truyền thống sang du lịch thông minh; lữ hành, nghỉ dưỡng chất lượng cao; hình thành các trung tâm logistics, mua sắm, vui chơi giải trí và sản phẩm đặc thù như du lịch canh nông. Các trung tâm logistics, cảng, kho bãi, y tế cũng phải mở rộng kết hợp liên ngành để khai thác triệt để tiềm năng.
TS Nguyễn Văn Điển kỳ vọng: “Mô hình tăng trưởng kinh tế mới xác định lấy kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức làm tiền đề, đặc biệt là đổi mới sáng tạo. Đây là những yếu tố trực tiếp giải phóng nguồn lực xã hội, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào. Với những thành tựu đã đạt được và các nghị quyết đã ban hành, Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được mục tiêu đề ra.”
Nguồn nhân lực chất lượng cao là then chốt
TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, phân tích: Bản chất của mô hình tăng trưởng mới là chuyển dịch từ lao động cơ học sang lao động tri thức, từ đầu tư vật chất sang đầu tư vào con người, công nghệ và thể chế. Nếu mô hình cũ dựa vào vốn, lao động, tài nguyên, thị trường, thì mô hình mới lấy tri thức, công nghệ, thể chế, con người làm trung tâm. Ông nhấn mạnh: “Trong bối cảnh thế giới chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ và địa chính trị, Việt Nam đứng trước ngã rẽ quyết định: hoặc đổi mới mô hình tăng trưởng để bứt phá, hoặc chấp nhận tụt lại phía sau.”
Việt Nam có đủ điều kiện để bước vào mô hình tăng trưởng mới: đội ngũ nhân lực trẻ, năng động, thông minh giúp hấp thụ công nghệ nhanh; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với hơn 3.800 startup, hàng trăm quỹ đầu tư mạo hiểm và nhiều trung tâm R&D của tập đoàn toàn cầu; hạ tầng số và dữ liệu quốc gia đang được xây dựng đồng bộ; Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số đang dần thành hiện thực. Cải cách thể chế cũng được đẩy mạnh, chuyển từ quản lý sang phục vụ và tạo thuận lợi.
Động lực tạo bước nhảy vọt về năng suất
TS Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng giáo dục không còn là lĩnh vực xã hội đơn thuần mà là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất. Một nền giáo dục hiện đại, thực học sẽ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để vận hành nền kinh tế tri thức và chuyển đổi số. “Nếu mô hình tăng trưởng cũ dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, thì mô hình mới phải khai thác tài nguyên trí tuệ của con người Việt Nam. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh đã bắt đầu đóng góp thực chất vào tăng trưởng, dù tỷ trọng còn khiêm tốn. Đây là dư địa rất lớn để tạo ra bước nhảy vọt về năng suất.”
Đổi mới sáng tạo sẽ giúp quốc gia vượt rào phát triển, chuyển đổi số rút ngắn khoảng cách tụt hậu, dữ liệu và AI trở thành tài sản quốc gia. Điều quan trọng là tạo ra hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, nơi nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà hoạch định chính sách và người dân cùng hành động trong một tầm nhìn chung.



