Bài học từ Đại hội VI: Đổi mới là giải phóng tư duy
Trong cuộc trao đổi chuyên sâu về hành trình 40 năm Đổi mới, ông Võ Hồng Phúc - nhân chứng lịch sử của thời kỳ chuyển mình đất nước - đã chia sẻ những phân tích sâu sắc về quá trình hình thành và thực hiện công cuộc Đổi mới từ Đại hội VI. Theo ông, muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn mới, Việt Nam buộc phải có những bứt phá mạnh mẽ về thể chế, kế thừa và phát huy tinh thần đổi mới từ những bài học lịch sử.
Những "vết nứt" buộc phải thay đổi
Ông Phúc nhớ lại bối cảnh trước Đại hội VI, khi những "vết nứt" trong mô hình cũ đã tích tụ đủ để buộc hệ thống phải thay đổi. Từ cuối những năm 1960, mô hình khoán mười trong nông nghiệp đã xuất hiện và đến đầu thập niên 1980 được nhân rộng thành cách làm mới. Cùng thời điểm này, Liên Xô - chỗ dựa quan trọng của Việt Nam - bắt đầu gặp khó khăn, viện trợ và cung ứng vật tư giảm mạnh khiến nền kinh tế trong nước lâm vào tình trạng căng thẳng.
"Chính trong bối cảnh đó, các bộ, ngành bắt đầu thúc đẩy những thay đổi từ bên trong", ông Phúc nhấn mạnh. Các biện pháp như mở rộng kế hoạch hai, kế hoạch ba, cải cách đơn giá, từng bước loại bỏ yếu tố bao cấp và trao thêm quyền tự chủ kinh doanh cho các cơ sở đã trở thành những chuyển động ban đầu của tư duy đổi mới trong công tác kế hoạch hóa.
Bước ngoặt tại Đại hội VI
Đến năm 1986, khi Đại hội VI diễn ra, công cuộc Đổi mới mới thực sự trở thành quyết định chính thức. Ông Phúc tiết lộ một chi tiết quan trọng: trong quá trình chuẩn bị Đại hội, các tài liệu ban đầu vẫn được xây dựng theo tư duy cũ, nặng về kế hoạch hóa và bao cấp. Sau khi đồng chí Lê Duẩn qua đời, đồng chí Trường Chinh trên cương vị Tổng Bí thư đã sớm nhận ra những bất cập này.
Sau khi trực tiếp nghiên cứu các mô hình thực tiễn, đặc biệt trong nông nghiệp, đồng chí Trường Chinh đã chỉ đạo điều chỉnh lại toàn bộ nội dung văn kiện. Chỉ trong thời gian ngắn, các định hướng kinh tế quan trọng được sửa đổi, khẩu hiệu "đổi mới toàn diện nền kinh tế" được hình thành. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình này, đặc biệt trong việc xây dựng định hướng cho giai đoạn 1986-1990.
Tại Đại hội VI, nhiều ý kiến phê phán gay gắt cách điều hành cũ, coi đó là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính - tiền tệ và khủng hoảng giá - lương - tiền trong các năm 1984-1985. Đại hội cũng chứng kiến sự thay đổi lớn về nhân sự lãnh đạo với tập thể mới mang tư duy đổi mới rõ nét hơn.
Yếu tố con người quyết định
Theo ông Phúc, con người chính là yếu tố quyết định cho Đổi mới. "Ở đây có thể thấy rất rõ một quá trình: quyết định được hình thành từ dưới đi lên", ông phân tích. Khi cơ sở bức xúc quá, họ buộc phải tìm cách phá vỡ những ràng buộc cũ, "phá rào", "xé rào" để tồn tại và phát triển.
Trong nông nghiệp có những mô hình từ Vĩnh Phúc, La Ngà; trong công nghiệp, thương mại có những sáng kiến từ TP.HCM; trong lĩnh vực lương thực có thể kể đến mô hình của bà Ba Thi. Tất cả đều cho thấy từ thực tiễn cơ sở đã xuất hiện những mầm mống đổi mới.
Ông Phúc nhấn mạnh: "May mắn của những người tiên phong đổi mới là họ gặp được một thế hệ lãnh đạo rất nhạy bén, rất nhạy cảm với thực tiễn". Những đồng chí như Võ Văn Kiệt, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh đều có tư duy cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận cái mới và chỉ đạo quyết liệt việc sửa đổi từ công tác lý luận đến xây dựng văn kiện Đại hội.
Bài học về tốc độ cải cách
Nhìn lại toàn bộ quá trình cải cách trong 40 năm Đổi mới, ông Phúc cho rằng vấn đề nằm ở chỗ lộ trình thực hiện các quyết sách đúng đắn lại đi khá chậm. Việc thừa nhận các thành phần kinh tế và xác định kinh tế tư nhân là động lực của nền kinh tế là một quá trình đấu tranh rất dài.
"Trong một thời gian rất lâu, khi nói đến vai trò của các khu vực kinh tế, bao giờ cũng khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo, còn kinh tế tư nhân chỉ được coi là thứ yếu", ông nhận xét. Phải đến những năm gần đây, chúng ta mới chính thức xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế.
Một ví dụ điển hình là câu chuyện cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân. Vấn đề này đã phải tranh luận rất lâu mới đi đến quyết định cuối cùng. Phải đến cuối khóa VIII, đầu khóa IX, vấn đề này mới bắt đầu được chấp nhận từng bước. Đến đầu khóa X, mới chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân và tiến tới việc thành lập tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân.
Giữ vững tinh thần đổi mới
Ông Phúc chia sẻ câu chuyện tại Đại hội XI, khi ông kiên quyết bảo vệ việc thay đổi quan điểm về công hữu tư liệu sản xuất trong dự thảo văn kiện. Vấn đề này bắt nguồn từ Cương lĩnh năm 2000, nhưng đến giai đoạn chuẩn bị Đại hội X và XI, nhóm chuẩn bị văn kiện đã đấu tranh quyết liệt để thay đổi.
Trong Nghị quyết và Văn kiện Đại hội X, đã có thay đổi quan trọng: khi nói về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong quan hệ sản xuất, không còn nhấn mạnh công hữu tư liệu sản xuất nữa, mà chuyển sang khẳng định đó là quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tại Đại hội XI, sau khi đề nghị biểu quyết lại nội dung này, kết quả là đa số đại biểu đã ủng hộ quan điểm đổi mới với tỷ lệ khoảng 53-54%. Tinh thần đổi mới của Đại hội X đã được giữ lại và thể hiện trong văn kiện Đại hội XI.
"Nếu giữ nguyên như dự thảo ban đầu, thì không chỉ nhà đầu tư nước ngoài, mà cả nhà đầu tư tư nhân trong nước cũng sẽ đặt dấu hỏi lớn", ông Phúc phân tích. Niềm tin thể chế là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và phát triển bền vững.
Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô
Về vấn đề tăng trưởng, ông Phúc cho biết lúc nào chúng ta cũng có khát vọng tăng trưởng cao, nhưng khát vọng đó luôn đi kèm với yêu cầu phải hợp lý và khả thi. Các mục tiêu tăng trưởng đều được cân nhắc kỹ dựa trên cân đối vĩ mô, tiềm lực nền kinh tế và kinh nghiệm tăng trưởng của những thập kỷ trước.
Các kế hoạch 5 năm thường đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 7-8%, nhiều nhất là 7,5-8%. Chưa bao giờ chúng ta dám đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số cho cả một giai đoạn dài. Ngay cả trong những năm tăng trưởng rực rỡ nhất như giai đoạn 1995-1996, mức tăng trưởng cao nhất cũng chỉ đạt khoảng 9,5%.
Ông Phúc nhấn mạnh: "Cách tiếp cận của chúng ta khi đó là ưu tiên sự ổn định và tính bền vững". Khi nền kinh tế phát triển nóng, vai trò cân đối vĩ mô trở nên vô cùng quan trọng. Thị trường có thể vận hành tự do, nhưng phải có người làm nhiệm vụ điều tiết, bảo đảm tăng trưởng diễn ra cân bằng và đúng định hướng.
Bài học lớn nhất: Vượt qua rào cản lý luận
Theo ông Phúc, bài học lớn nhất trong suốt 40 năm Đổi mới là phải vượt qua được những rào cản lý luận đã ăn sâu trong tư duy suốt nhiều thập kỷ. Những lý luận cũ, những cách nghĩ cũ đã hằn rất sâu trong nhận thức của nhiều thế hệ, từ hệ thống giáo dục, đào tạo cán bộ, qua đời này sang đời khác.
"Muốn đổi mới thực sự, phải dám gạt bỏ những lý luận giáo điều, xa rời thực tiễn", ông khẳng định. Phải lấy thực tiễn làm thước đo để kiểm nghiệm lý luận đúng hay sai. Lý luận nào đã được thực tiễn kiểm chứng là đúng, phù hợp với sự phát triển của đất nước, thì phải mạnh dạn tiếp thu và áp dụng.
Ông Phúc kết luận: "Đổi mới, suy cho cùng, là quá trình giải phóng tư duy, là dám vượt qua chính những rào cản trong đầu mình để xây dựng một thể chế và một mô hình phát triển mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế chung của thời đại". Đây chính là nền tảng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong tương lai.



